Tháng 07, 2017
Thứ tư
Thứ Năm, ngày 18/05/2017 10:49 AM (GMT+7)

Cách mạng 4.0 - Cơ hội nào cho ngành KHCN?

“Cơn bão” cách mạng Công nghiệp 4.0 đặt ra cơ hội và thách thức rất lớn cho ngành khoa học công nghệ nước ta...

Cách mạng 4.0 - Cơ hội nào cho ngành KHCN? - 1

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Những thành tựu đáng khâm phục

Là quốc gia đang phát triển, còn thiếu cơ sở hạ tầng công nghệ chất lượng cao, nhưng Việt Nam đã có những thành tựu khoa học công nghệ (KHCN) ngang tầm thế giới. 

Việt Nam là nước sản xuất vaccine hàng đầu khu vực, một trong 10 quốc gia trên thế giới đóng được dàn khoan tự nâng. Đồng thời, nước ta cũng dẫn đầu về thiết kế thi công nhà máy thủy điện cỡ lớn, làm chủ được công nghệ điều khiển mặt đất và phân tích ảnh vệ tinh… 

Trong nông nghiệp, Việt Nam là quốc gia xuất khẩu hàng đầu về gạo, hạt tiêu, hạt điều, thủy hải sản... Trong công nghiệp điện tử, nước ta đã tự sản xuất các vi mạch điện tử, công nghiệp quốc phòng có vị trí xứng đáng từ các tàu hộ vệ tên lửa, thông tin, ra đa…

Đặc biệt, về khoa học cơ bản, Việt Nam có những thành tựu đáng khâm phục. Năm 2014, về Toán học, Việt Nam đứng thứ 50 thế giới và thứ 4 ASEAN. Về Vật lý, chúng ta xếp thứ 60 thế giới và thứ 4 khu vực. Về Hóa học, chúng ta xếp thứ 56 thế giới và xếp thứ 4 khu vực ASEAN. Với lĩnh vực khoa học sự sống trái đất, Việt Nam xếp thứ 57 thế giới và xếp thứ 5 trong khu vực ASEAN.

Đánh giá về vai trò của ngành khoa học cơ bản đối với đời sống xã hội, có thể khẳng định khoa học cơ bản của Việt Nam đang làm thay đổi đáng kể cuộc sống hàng ngày. Từ cái điện thoại cho tới mạng Internet đều bắt nguồn từ nghiên cứu cơ bản. Một nghiên cứu điều chế tinh chất có tác dụng chống ung thư từ củ nghệ nhờ công nghệ nano phát xuất từ Chương trình "Gặp gỡ Việt Nam" (tháng 3 năm 2016)…

Còn nhiều nan giải

Tuy nhiên, việc đưa KHCN đến với các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là vấn đề nan giải. Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh, cho đến trước năm 2012 thị trường “chính ngạch” trong lĩnh vực khoa học công nghệ vẫn là con số 0. Chỉ đến khi thành phố hình thành các sàn giao dịch, 4 năm qua mới có được khoảng 40 hợp đồng chuyển giao được ký kết với tổng trị giá vỏn vẹn chừng 50 tỷ đồng. 

Câu hỏi hôm nay, là làm thế nào để thúc đẩy truyền thông phát triển để thúc đẩy thị trường KHCN?

Nếu như nói an ninh, quốc phòng, giáo dục, văn hóa - xã hội… là những lĩnh vực không thể thiếu cho sự ổn định và phát triển của một đất nước thì khoa học – công nghệ là một lĩnh vực vô cùng quan trọng và cần thiết cho sự phát triển của mỗi quốc gia.

Trong quá trình hội nhập hiện nay, khoa học - công nghệ, mà tiêu biểu là cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm cho đất nước ngày càng văn minh hiện đại, thúc đẩy cho sự phát triển của đất nước. Muốn cho khoa học - công nghệ phát triển mạnh, đòi hỏi đất nước ta phải chú trọng đầu tư phát triển mạnh mẽ nền giáo dục.

Năm 2000, ở Việt Nam trong 100 người đi làm chỉ có 16 người được học nghề. Đến năm 2015, cứ 100 người đi làm có 51 người đã qua đào tạo. Nghĩa là sau 15 năm vẫn còn phân nửa số người Việt Nam đi làm mà chưa từng qua trường lớp nào cả. 15 năm trước, cả nước chỉ có 1,5 triệu lao động có trình độ ĐH-CĐ trong toàn bộ nền kinh tế, còn bây giờ con số này tăng lên 4,8 triệu người. Theo kế hoạch, đến năm 2020, chúng ta kỳ vọng số lao động đã qua đào tạo sẽ chiếm khoảng 15% tổng lao động của cả nước.

Hiện nay, trung bình mỗi năm có khoảng 450.000 sinh viên tốt nghiệp ĐH-CĐ, dự báo trong một vài năm nữa con số này sẽ tăng lên khoảng 500.000 sinh viên, trong đó có khoảng 25.000 du học sinh tốt nghiệp tại nước ngoài.

Một nền kinh tế mỗi năm có nửa triệu người trình độ đại học, cao đẳng bước vào thị trường lao động, được đánh giá là một lợi thế cực kỳ quan trọng cho sự phát triển của đất nước.

Theo thống kê, Singapore là đất nước 5,5 triệu dân, trong đó cứ 1 triệu dân có 6.500 người làm nghiên cứu khoa học. Tỷ lệ này tại Hàn Quốc là 6.000 người/1 triệu dân, Nhật Bản 5.000 người, Mỹ là 4.000 người, Malaysia 1.600 người, Trung Quốc 900 người, còn Việt Nam chỉ có 700 người. 

Một vài số liệu cho thấy: Ở Singapore, số tiền được chi cho khoa học chiếm 2,1% GDP. Hàn Quốc là một nước có trình độ Khoa học & CNTT rất cao chi cho khoa học 4,1% GDP. Nhật Bản nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới là 3,4% GDP. Malaysia là 1% GDP. Còn Việt Nam chỉ là 0,87% GDP.

Số người làm khoa học không nhiều, số tiền dành cho nghiên cứu cũng hạn chế dẫn tới số công bố khoa học của nước ta ít ỏi như hiện tại cũng là điều đương nhiên. 

Năm 2010 cả nước có 1.400 công bố khoa học, thì đến năm 2014 con số tăng lên là 2.600 công bố. Đây là tiến bộ rất đáng kể của Việt Nam, tuy nhiên nếu so với các nước khác thì con số này vẫn vô cùng khiêm tốn. 

Trong khi đó, ở Hoa Kỳ có 2,6 triệu công bố khoa học và 1,3 triệu người làm nghiên cứu khoa học. Trung bình 1 nhà khoa học Mỹ mỗi năm có 2 công bố khoa học. Trung Quốc có 1 triệu công bố và 1,2 triệu người làm khoa học, bình quân cứ 1 người làm khoa học Trung Quốc mỗi năm có 0,83 công bố. Ở ASEAN, Singapore đứng đầu với 63.000 công bố, Malaysia là 47.000, Thái Lan 36.000, nước thứ 4 ở ASEAN là Việt Nam khoảng 10.000 trong 4 năm vừa qua.

Cơ hội nào cho Việt Nam?

Nếu chúng ta đổi mới cơ chế giáo dục và khoa học, tăng nhân lực khoa học từ vài trăm người lên 2.000 người, tăng đầu tư cho khoa học từ 0,87% lên 2% GDP. Liệu Việt Nam có thể nằm trong top các nước đứng đầu khu vực? Đó là chưa kể nhiều phát minh sáng chế có giá trị lại bắt đầu khởi nghiệp từ bà con nông dân. 

Rõ ràng, khoa học và công nghệ là động lực tăng trưởng của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập. Vì vậy, doanh nghiệp phải là chủ thể chính đầu tư cho lĩnh vực này để có đủ năng lực cạnh tranh quốc tế và vươn ra thị trường toàn cầu. Con đường ngắn nhất để chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị gia tăng cho xã hội là lực lượng nghiên cứu khoa học song hành với các doanh nghiệp và giải quyết vấn đề của doanh nghiệp.

Để đạt được điều đó, chúng ta cần dũng cảm thay đổi, trước hết trong tư duy chiến lược về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Đầu tư cho khoa học và công nghệ không chỉ là chi tiền cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D) tạo ra tri thức. Quan trọng hơn là đầu tư cho đổi mới sáng tạo và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu để biến tri thức trở lại thành tiền và giá trị gia tăng cho xã hội.

Nhà nước chỉ ban hành cơ chế chính sách, chứ không thể làm thay việc thúc đẩy thị trường. Việc đưa được cơ chế chính sách mà nhà nước đã ban hành đến với doanh nghiệp và đến với người dân là trách nhiệm của các cơ quan truyền thông. 

Vì vậy, mỗi dịp kỷ niệm ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ hội để mỗi chúng ta cùng nhìn lại những gì đã đạt được, những gì còn phải cố gắng không ngừng và quyết liệt. Hầu hết tài nguyên của quốc gia đang ngày càng cạn kiệt, nhưng trí tuệ, năng lực sáng tạo càng khai thác, sử dụng thì càng thêm giàu có, phong phú. 

Bất kỳ ai, mọi người dân, đều có quyền tìm tòi sáng tạo, nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ. Quốc gia nào có năng lực cạnh tranh cao sẽ có nhiều cơ hội để phát triển nhanh và bền vững. Mà cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia suy cho cùng là cạnh tranh nguồn vốn tri thức, thể hiện qua chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ. 

Trong công cuộc đó, Việt Nam không phải không có những lợi thế để hội nhập và phát triển. Tuy nhiên, cuộc cách mạng 4.0 vẫn đang trong giai đoạn khởi phát nên sẽ là cơ hội quý báu mà Việt Nam phải nhanh chóng đón bắt để tranh thủ đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 

Nếu không định hướng được rõ ràng mục tiêu, cách thức tiếp cận và tham gia thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới giáo dục, phát triển khoa học và công nghệ phù hợp thì sức ép đặt ra cho Việt Nam bởi cuộc cách mạng này sẽ rất lớn.

PGS. Nguyễn Văn Nhã (Nguyên Trưởng Ban Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội)

Tin đọc nhiều

Kỳ 6: Những nỗ lực phát triển bản sắc văn hóa Việt ở Đàng Trong Người Việt ở Đàng trong đã phát triển một bản sắc văn hóa...
Kỳ 2: Sức người thi gan bom đạn, cõng xăng vào chiến trường Theo lời kể lại của Đại tá Nguyễn Việt Phương thì người đầu...
Kỳ 1: Bí ẩn đường ống xăng dầu xuyên Việt thời chiến tranh Với điều kiện kỹ thuật của Việt Nam lại bị bom đạn đánh phá...
Kỳ 5: Đàng Trong phát triển ngoại thương Họ Nguyễn đã lấy Ngoại thương làm động lực để phát triển...