Tháng 07, 2018
Thứ sáu
Thứ Năm, ngày 28/06/2018 08:12 AM (GMT+7)

Mô hình giáo dục Pháp-Việt và Pháp-Pháp tại Đông Dương

Song song với hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt, Pháp thiết lập 3 trường hoàn toàn như ở Pháp dành riêng cho con cái người Pháp ở Việt Nam và con cái những người Việt thân Pháp.

Xem thêm các kỳ:

Ngay khi chiếm được toàn Việt Nam, người Pháp đã áp đặt hệ thống giáo dục của riêng mình tại xứ thuộc địa, nhằm nhanh chóng phổ biến và áp đặt văn hóa Pháp tại vùng đất này. Giáo dục được chọn là lĩnh vực tiên phong trong chiến lược Âu hóa nền văn hóa lâu đời của cư dân bản địa. Người Pháp đã làm những gì? Người Việt đã tiếp thu chọn lọc ra sao? Nền Âu học đã có những đóng góp gì cho sự phát triển của Việt Nam nói chung, Nam Kỳ nói riêng?Tạp chí Khám phá trân trọng gửi đến quý độc giả loạt bài của nhà nghiên cứu Trần Bích San.

Để điều hành, Pháp thiết lập tại mỗi kỳ một Sở Giáo dục cho người bản xứ (Service de L’Enseignement Local) do một Chánh Sở (Chef de Service) người Pháp đứng đầu. Các cơ sở giáo dục này đặt trực thuộc tòa Khâm Sứ. Mọi sự bổ nhiệm, thuyên chuyển, thăng thưởng, kỷ luật các giáo chức từ bậc tiểu học trở lên đều phải do khâm Sứ quyết định.

Khi Pháp thành lập liên bang Đông Dương (gồm Bắc, Trung, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào), một số việc phải được Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur de l’Indochine) chuẩn y.

Mô hình giáo dục Pháp-Việt và Pháp-Pháp tại Đông Dương - 1

Liên bang Đông Dương thuộc Pháp

Nha học Chính đông Pháp (Direction de l’Instruction Publique de l’Indochine) ra đời do một Giám đốc người Pháp chỉ đạo trực tiếp 5 Sở Giáo dục của liên bang Đông Dương. Năm 1933, Phạm Quỳnh được Bảo Đại bổ nhiệm làm Thượng Thư Bộ Học. Nhờ sự đòi hỏi quyết liệt của họ Phạm, Pháp phải nhượng bộ cho Việt Nam quyền quản lý các trường tiểu học ở Trung Kỳ nhưng dưới sự kiểm soát của tòa Khâm Sứ Pháp.

Hệ thống giáo dục Pháp-Việt gồm 2 phần: giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp, đại học.

Trong thời kỳ phôi thai, Pháp thiết lập vài trường để làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục phổ thông là các trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879), trường Quốc Học Huế (1896), trường trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908).

Mô hình giáo dục Pháp-Việt và Pháp-Pháp tại Đông Dương - 2

Trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho

Ba trường này khi mới mở chỉ có bậc tiểu học, mấy chục năm sau mới giảng dạy đến các bậc cao hơn. Riêng chỉ có 2 trường Quốc Học Huế và trường Bưởi sau này có đến bậc Tú Tài. Từ 1910 đến 1930 là thời kỳ hình thành hệ thống giáo dục có tính cách hệ thống. Từ 1930 đến 1945 là thời kỳ tổ chức hệ thống giáo dục cho người bản xứ của Pháp ở Việt Nam đã được hoàn chỉnh.

Song song với hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt, Pháp thiết lập 3 trường hoàn toàn như ở Pháp dành riêng cho con cái người Pháp ở Việt Nam và con cái những người Việt thân Pháp. Đó là các trường Chasseloup Laubat ở Sài Gòn (1874), trường Albert Sarraut ở Hà Nội (1918) và trường Yersin ở Đà Lạt (1935). Cả 3 trường này lúc đầu cũng được hình thành từ bậc tiểu học trước rồi sau mới có đến bậc Tú Tài.

Tới khi hình thành đầy đủ, hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt có 3 bậc với học trình là 13 năm:

Bậc Tiểu học 6 năm:

- Lớp Đồng ấu (Cours Enfantin)

- Lớp Dự bị (Cours Préparatoire)

- Lớp Sơ đẳng (Cours Élémentaire)

- Lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen 1ère année)

- Lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen 2è année) 

- Lớp Nhất (Cours Supérieur)

Mô hình giáo dục Pháp-Việt và Pháp-Pháp tại Đông Dương - 3

Ba lớp đầu còn được gọi là bậc sơ học. Học xong lớp Sơ đẳng học sinh thi lấy bằng Sơ học Yếu lược (Primaire Élémentaire) Những học sinh được tuyển thẳng lên lớp Nhì năm thứ nhất không bắt buộc phải thi Sơ học Yếu lược.

Học hết lớp Nhất học sinh được thi bằng Tiểu học Yếu lược hay Sơ đẳng Tiểu học (Certificat d’Études Primaire Franco-Indigène, viết tắt là CEPFI), phải có bằng này mới được dự tuyển học lên lớp trên.

Bậc Cao đẳng Tiểu học (Primaire) 4 năm:

Học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao đẳng Tiểu học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) còn gọi là bằng Thành chung. Phải có bằng Thành chung mới được dự thi lên bậc Trung học tức bậc Tú tài. Các trường dạy bậc Cao đẳng Tiểu học được gọi là Collège.

Bậc Trung học (Enseignement Secondaire) 3 năm:

Còn được gọi là bậc Tú tài Pháp-Việt, bậc Trung học gồm 3 năm. Học xong 2 năm đầu được thi lấy bằng Tú tài phần thứ nhất (Baccalauréat, 1ère partie). Đậu bằng này được học tiếp năm thứ ba không phải thi tuyển. Năm thứ 3 được chia làm 2 ban: ban Triết và ban Toán. Hai ban có những môn học hoàn toàn giống nhau như Sử, Địa, Ngoại ngữ. Có những môn giống nhau nhưng số giờ học khác nhau như Đại số, Thiên văn. Có những môn chỉ học ở ban này mà ban kia không có như ban Triết có Tâm lý học, Siêu Hình học, ban Toán có Hình học, Cơ học, Số học.

Mô hình giáo dục Pháp-Việt và Pháp-Pháp tại Đông Dương - 4

Từ niên học 1937-1938 trên toàn Việt Nam đều áp dụng chương trình Pháp-Việt đủ 3 ban: Toán, Khoa học, Triết. Ngoài ban mình học, học sinh được phép thi tốt nghiệp các ban khác nhưng phải tự học thêm những môn mà ở ban mình theo học không có.

Học sinh cũng được phép thi bằng Tú tài Pháp. Học xong năm này thi lấy bằng Tú tài toàn phần (Certificat de Fin d’Études Secondaire Franco-Indigènes). Học sinh tốt nghiệp 2 hoặc 3 ban hoặc thêm bằng Tú tài Pháp, được ưu tiên khi thi vào các trường Đại Học có thi tuyển như các trường Grandes Écoles ở Pháp hoặc các trường Cao đẳng chuyên nghiệp ở Hà Nội lúc đó.

Trần Bích San
Xem thêm các kỳ:

Tin đọc nhiều

Hơn 1.000 lính Mỹ tử trận tại Khe Sanh vì điều gì? Vào đầu tháng 7/1968, căn cứ tác chiến Khe Sanh bị phá hủy,...
Khe Sanh - Địa ngục của lính Mỹ Tại Sài Gòn, tướng Westmoreland đã đợi sẵn cuộc tấn công của...
Kỳ 2: Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp Đến thế kỷ XIII, vùng đất Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất...
Khe Sanh - Điện Biên phủ thứ 2 Cả Hoa Kỳ và Bắc Việt đều khát khao giành chiến thắng trong...