Tháng 09, 2018
Thứ năm
Thứ Bảy, ngày 05/05/2018 08:47 AM (GMT+7)

Quá trình đào, vét kênh rạch của Pháp ở Đồng Tháp Mười

Sau khi chiếm được Nam Kỳ người Pháp đã vạch ra một kế hoạch đào bới (Dragages) bắt đầu từ năm 1886 đến năm 1895.

Xem thêm các kỳ:

Lục tỉnh Nam Kỳ đầu thế kỷ 19 là vùng đồng bằng phần lớn ngập nước. Nhiều vùng ở Tây Nam Bộ ngập mặn, nhiễm phèn, đất rộng mà không canh tác được. Vua chúa nhà Nguyễn và nhất là người Pháp đã dùng sức lao động của người dân Việt Nam để làm nên một hệ thống kênh dẫn nước khổng lồ, đan kín đồng bằng Nam Bộ. Chính hệ thống kênh đào này đã thau chua, rửa mặn, hồi sinh cho cả một vùng đồng bằng rộng lớn, phát triển nông nghiệp. Ngoài chuyện phục vụ người Pháp khai thác thuộc địa một cách triệt để, hệ thống kênh đào cũng đã làm nên một vùng đồng bằng sông Cửu Long mênh mông sông nước và tràn trề sức sống đến tận ngày nay. Tạp chí Khám phá trân trọng giới thiệu loạt bài nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Thắng, Giảng viên Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh về hệ thống kênh đào thời Pháp thuộc ở vùng Đồng Tháp Mười.

Với mục đích: “phát triển giao thông để duy trì trật tự an ninh trong các tỉnh, giúp cho việc trao đổi buôn bán và chuyên chở thóc gạo và nếu không có kênh giao thông dễ dàng, không có thuộc địa hóa, vì an ninh đi song đôi với giao thông”. Vì thế, sau khi chiếm được Nam Kỳ người Pháp đã vạch ra một kế hoạch đào bới (Dragages) bắt đầu từ năm 1886 đến năm 1895.

Sau đó, trong nhiều thập kỉ là những kế hoạch đào, vét kênh rạch từ năm 1896 đến năm 1906. Chương trình đào kênh năm 1910 - 1938, chương trình đào kênh tại Nam Kỳ năm 1945... Để chuyên môn hoá hoạt động này, Chính phủ Pháp đã tổ chức đấu thầu và trúng thầu là những công ty tư nhân.

Quá trình đào, vét kênh rạch của Pháp ở Đồng Tháp Mười - 1

Bản đồ kênh đào Bảo Định

Vét, nâng cấp rạch Bến Lức và kênh Bảo Định trong năm 1866 đến năm 1867:

Năm 1866, để thực hiện ý đồ "vừa đánh, vừa khai thác", theo lệnh đô đốc Dupré, hai tàu cuốc nhỏ đi theo hải quân đến nạo vét, mở rộng rạch Bến Lức và kênh Bảo Định. Trong năm 1867, người Pháp đã hoàn tất mở rộng kênh Bảo Định và đặt tên là Ayorro de la Poste (kênh Bưu điện). Toàn bộ kênh dài độ 30 km, ngang khoảng 30 m, sâu 7 - 9 m.

Kênh Tổng Đốc Lộc - Nguyễn Văn Tiếp:

Từ 1895 - 1897, Trần Bá Lộc (năm 1865, được Pháp thăng chức chủ quận Cái Bè) đã tự đầu tư đào con kênh dài 45 km, rộng 10m, nối từ Rạch Ruộng phía sông Tiền Giang ăn thông đến kênh Bà Bèo, nơi tiếp nối là phía Bắc rạch Cai Lậy. Năm 1899, Trần Bá Lộc tiếp tục bắt dân đào dài thêm 32 km. Những năm sau đó, chính phủ Pháp tiếp tục đầu tư đào tiếp kênh này.

Kênh Lagrange - Dương Văn Dương:

Từ 1899 - 1903, Lagrange là Tham biện Tân An điều hành đào con kênh, nối sông Vàm Cỏ Tây ở đầu phía Đông và kênh Phước Xuyên, kênh Đông Tiến ở đầu phía Tây tại ngã tư gãy Cờ Đen. Năm 1925 - 1927, hãng thầu Pháp là Monvéneux tổ chức nạo vét với quy mô lớn. Sau nhiều lần nạo vét, kênh có chiều dài 45 km, rộng 40 m, sâu 4 m. Kênh được đặt tên là Lagrange, ngoài ra còn có tên khác như kênh Ông Lớn, kênh Cùng.

Quá trình đào, vét kênh rạch của Pháp ở Đồng Tháp Mười - 2

Kênh Tháp Mười

Kênh Tháp Mười

Đoạn nằm trong địa phận Cao Lãnh dài 17 km đào năm 1901 (12). Năm 1922, từ Rạch Chanh, người Pháp cho vét thẳng lên kênh Bà Bèo. Đồng thời, xuất phát từ khoảng giữa kênh Tổng Đốc Lộc (đầu rạch Cái Nứa), đào thẳng tiếp tục về hướng tây Đồng Tháp Mười, đổ ra sông Tiền, dài khoảng 60 km. Đoạn kênh này đi ngang qua khu phế tích Gò nên gọi là kênh Tháp Mười.

Từ năm 1897 - 1904, trong vùng Đồng Tháp Mười đào nhiều kênh:

Năm 1897, đào kênh Cai Bắc; năm 1898, đào kênh Ba Điền với độ sâu 1,5m; năm 1900, đào kênh Cái Tôm, kênh Bến Kè, kênh Năm Ngàn; năm 1903 - 1904, đào kênh kênh 12, nối Mộc Hóa với Cai Lậy, kênh này rất hữu dụng trong giao thông và thoát nước úng ra sông lớn.

Tư bản Pháp đẩy mạnh vét kênh cũ, đào kênh mới:

Do nguồn lợi quá lớn từ kênh đào mang lại nên Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer càng ra sức đẩy mạnh việc đào kênh. Ngày 8/9/1900, ra Nghị định thành lập Hội nghiên cứu kế hoạch đào kênh, và coi việc nạo vét kênh rạch là thượng khẩn. Năm 1901, thành lập Công ty đào sông và các việc công chính Đông Dương. Tháng 2 - 1904, Công ty Kỹ nghệ Pháp tại Viễn Đông trúng thầu.

Năm 1907, Tổng thanh tra công chính Đông Dương A.Pounyanne đưa ra một kế hoạch đào, vét và mở rộng các kênh: Lagrange, Tổng Đốc Lộc, Đá Biên (Thạnh Phước, Thạnh Hóa, Long An), Phú Sửu, Tân Châu - Vàm Cỏ, cù lao Sung, cù lao Tây - Vàm Cỏ. 

Công việc đào kênh ở Đồng Tháp Mười được xúc tiến mạnh hơn từ sau hàng loạt dự án điều tra, nghiên cứu của những chuyên gia thủy lợi: dự án nghiên cứu các con sông ở Tân An của Gaudary (1907); dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Bolliet và Saraudy 1907); dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Gơri Pâyxơ và Baydi (1910); dự án mở rôṇg và hoàn thiện các kênh phía hạ lưu Hồng Ngự của Benaberg (1916).

Trần Hữu Thắng
Xem thêm các kỳ:

Tin đọc nhiều

Thay đổi lịch sử tìm dầu thế giới Cả Liên doanh Vietsovpetro đã “ngỡ ngàng” khi tìm ra dòng...
Phương pháp gây nhiễu chiến thuật của không quân Mỹ Khi máy bay ném bom B-52 bay đến khu vực gây nhiễu, trên màn...
Kỳ 5: Đàng Trong phát triển ngoại thương Họ Nguyễn đã lấy Ngoại thương làm động lực để phát triển...
Kỳ 2: Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp Đến thế kỷ XIII, vùng đất Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất...