Tháng 07, 2018
Thứ bảy
Thứ Ba, ngày 08/05/2018 09:37 AM (GMT+7)

Sự chuyển biến kinh tế nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười

Số lượng kênh đào được gia tăng, chạy xuyên qua nhiều nơi hoang vắng, và chính kênh đào là nhân tố thúc đẩy, dẫn đường đưa bước chân con người đi khai hoang mở rộng đất canh tác.

Lục tỉnh Nam Kỳ đầu thế kỷ 19 là vùng đồng bằng phần lớn ngập nước. Nhiều vùng ở Tây Nam Bộ ngập mặn, nhiễm phèn, đất rộng mà không canh tác được. Vua chúa nhà Nguyễn và nhất là người Pháp đã dùng sức lao động của người dân Việt Nam để làm nên một hệ thống kênh dẫn nước khổng lồ, đan kín đồng bằng Nam Bộ. Chính hệ thống kênh đào này đã thau chua, rửa mặn, hồi sinh cho cả một vùng đồng bằng rộng lớn, phát triển nông nghiệp. Ngoài chuyện phục vụ người Pháp khai thác thuộc địa một cách triệt để, hệ thống kênh đào cũng đã làm nên một vùng đồng bằng sông Cửu Long mênh mông sông nước và tràn trề sức sống đến tận ngày nay. Tạp chí Khám phá trân trọng giới thiệu loạt bài nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Thắng, Giảng viên Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh về hệ thống kênh đào thời Pháp thuộc ở vùng Đồng Tháp Mười.

Công việc đào kênh ở Đồng Tháp Mười được xúc tiến mạnh hơn từ sau hàng loạt dự án điều tra, nghiên cứu của những chuyên gia thủy lợi: dự án nghiên cứu các con sông ở Tân An của Gaudary (1907); dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Bolliet và Saraudy 1907); dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Gơri Pâyxơ, dự án nghiên cứu Đồng Tháp Mười của Gơri Pâyxơ và Baydi (1910); dự án mở rộng và hoàn thiện các kênh phía hạ lưu Hồng Ngự của Benaberg (1916).

Để thực hiện các dự án này năm 1918, chính quyền thuộc địa cho cải tạo kênh Tổng Đốc Lộc và đào kênh Lacombe (kênh Nguyễn Tấn Thành), dài 19,3km.

Sự chuyển biến kinh tế nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười - 1

Hệ thống kênh đào ở đồng bằng Nam Bộ thời Pháp

Ngày 23-5-1913, tại cuộc đấu thầu lần thứ ba, Công ty Đào sông và các việc công chính Đông Dương lại trúng thầu chương trình đào kênh 1913-1918. Nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ nhất, hợp đồng phải thay đổi rất nhiều lần và gia hạn lại trong các năm 1927, 1928, 1929.

Từ năm 1923 đến năm 1925, hoạt động đào kênh tiếp diễn nhưng cải tạo là chính. Từ 1921- 1924, cải tạo mở rộng kênh Tổng Đốc Lộc và kênh số 4. Những năm 1927 - 1931, đào nối kênh số 4 một đoạn 4 bis (kênh Cát Bích) và kênh Lagrange.

Năm 1829, nhà Nguyễn đào kênh Bo Bo. Trước năm 1875, Pháp cho vét lại và đến năm 1930 được cải tạo thêm lần nữa. Kênh dài 25km, ngang 15m, sâu 2,5m, nối từ đoạn giữa kênh Trà Cú Thượng ở phía bắc vơi kênh Thủ Thừa ở phía đông. ̀̃̀́̉́́̉̀̉́

Sau năm 1939, người Pháp chủ yếu cho nạo vét lại hệ thống kênh đào như: năm 1940, vét kênh Bến Lức, kênh Thủ Thừa (1941), kênh Tổng đốc Lộc (1941)...

Với các biện pháp thủy lợi để mở rộng diện tích tưới tiêu và di dân để tăng thêm nhân lực khai phá ở nhưng vùng còn hoang vắng, chinh quyền thuôc̣ địa đã nhanh chóng mở rộng thêm diện tích trồng lúa ở Nam Kỳ. Cùng với sự phát triển mạng lưới kênh đào, các khu vực trồng lúa đã tăng đều đặn từ 349.000 ha (năm 1879) đến 2.400.000 ha (1929). Giá trị trung bình của mức tăng hàng năm là 31.000 ha. Trong giai đoạn 1880 - 1913, tăng lên đến 40.000 ha và giai đoạn 5 năm 1923 - 1928.

Sự chuyển biến kinh tế nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười - 2

Kênh đào ở Vĩnh Long

Trong tình hình chung đó, nông nghiệp vùng Đồng Tháp Mười cũng đã có chuyển biến. Từ năm 1890, việc khẩn hoang đã diễn ra trên hầu hết các khu vực lân cận và một phần phía Nam vùng này. Điều này dẫn tới sự xuất hiện hàng loạt kênh đào quan trọng như kênh Thủ Thừa, kênh Tổng Đốc Lộc, kênh Lagrange và nhiều kênh khác. Đáng chú ý nhất là kênh Tổng Đốc Lộc dài gần 50 km kéo dài từ Long Xuyên, Châu Đốc, qua Mỹ Tho, Tân An với hệ thống 28 kênh phu,̣ trong đó có kênh số 12 (kênh Chénieux) nối liền kênh chính với kênh Lagrange và sông Vàm Cỏ Tây. Mỗi con kênh mở ra hàng ngàn ha đất được chuyển nhượng.

Số lượng kênh đào được gia tăng, chạy xuyên qua nhiều nơi hoang vắng, và chính kênh đào là nhân tố thúc đẩy, dẫn đường đưa bước chân con người đi khai hoang mở rộng đất canh tác. Thế nhưng thành quả khai hoang lại không thuộc về người Việt, mà bằng rất nhiều thủ đoạn, chính quyền thuộc địa đã chiếm đoạt, giành quyền sở hữu.

Làm sao để ổn định được tình hình chính trị, an ninh, cai trị người bản xứ nhằm khai thác lâu dài là bài toán rất khó đối với người Pháp trên đất Nam Kỳ giàu có ngoài sức tưởng tượng của họ.

Ngay từ đầu bắt tay vào khai thác, chính quyền thuộc địa vẫn chưa hiểu hình thức đồn điền người Việt đã được lập và phát triển khá mạnh ở Nam Kỳ. Vì thế, người Pháp đã thừa nhận nó mà không lường hết những tiềm ẩn bên trong. Và do “lầm tưởng rằng những người dân đồn điền khuất phục chúng, phó tổng đốc Charner đã công nhận tổ chức của họ bằng nghị định ký ngày 19/3/1861, nhưng sau đó, người Pháp hiểu ra, và xóa bỏ nó bằng Nghị định khác ký ngày 22/8/1861”. 

Trần Hữu Thắng

Tin đọc nhiều

Hơn 1.000 lính Mỹ tử trận tại Khe Sanh vì điều gì? Vào đầu tháng 7/1968, căn cứ tác chiến Khe Sanh bị phá hủy,...
Kỳ 2: Vùng đất Nam Bộ dưới thời Chân Lạp Đến thế kỷ XIII, vùng đất Nam Bộ vẫn còn là một vùng đất...
Khe Sanh - Địa ngục của lính Mỹ Tại Sài Gòn, tướng Westmoreland đã đợi sẵn cuộc tấn công của...
Khe Sanh - Điện Biên phủ thứ 2 Cả Hoa Kỳ và Bắc Việt đều khát khao giành chiến thắng trong...