Tháng 09, 2017
Thứ hai
Thứ Năm, ngày 18/05/2017 12:07 PM (GMT+7)

Việt Nam nỗ lực hình thành hệ thống giám sát biển từ vệ tinh (P1)

Với đường bờ biển dài 3.444 km (không tính các đảo) và vùng biển rộng lớn bao gồm các khu vực có đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam rõ ràng cần một chiến lược ISR toàn diện để tăng cường năng lực nhận thức biển cũng như năng lực định vị mục tiêu trên biển trong thời chiến cũng như thời bình.

Xem thêm các kỳ:

Việt Nam nỗ lực hình thành hệ thống giám sát biển từ vệ tinh (P1) - 1

Hình ảnh cầu Thanh Trì chụp từ vệ tinh VNREDsat -1. Ảnh: Báo Nhân dân

Việt Nam đang nỗ lực thực hiện mạng lưới giám sát biển (ISR), bao gồm các vệ tinh và những máy bay không người lái (UAV). Có thể kể đến  thỏa thuận giữa Việt Nam và Ấn Độ thể hiện rõ  trong mục tiêu sớm thành lập một trạm theo dõi vệ tinh ở Thành phố Hồ Chí Minh…

UAV và các chương trình vệ tinh viễn thám của Việt Nam thường được quan tâm đầu tư vì ưu thế của chúng trong nông nghiệp, quản lý thiên tai và quản lý nghề cá. 

Thế nhưng, rõ ràng công dụng của các vệ tinh vẫn có thể được sử dụng vào mục đích quốc phòng, vì chúng tạo ra hệ thống dữ liệu có thể được dùng cho nhiều mục đích khác nhau. Như vệ tinh dân sự chẳng hạn, dù có thể không sở hữu năng lực tương đương như các biến thể quân sự, chúng vẫn có thể hoàn thành một số nhiệm vụ quân sự cường độ thấp trong thời bình và cả trong thời chiến. 

Một số vệ tinh sử dụng cho mục đích dân sự nhưng cho thấy hiệu suất và năng lực tương đương một vệ tinh quân sự. Ví dụ như vệ tinh TeLEOS-1 có độ phân giải toàn sắc ở mức 1 mét (ở điểm thấp nhất), vì vậy rất hữu dụng về mặt quân sự. Ranh giới giữa ứng dụng quân sự và dân sự thường bị xóa mờ trong các dạng công nghệ lưỡng dụng như thế. Điều này đặc biệt đúng trong môi trường hàng hải.

Vào tháng 2 năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam cho biết họ sẽ dần hiện đại hóa các “trạm quan sát khí tượng thủy văn và môi trường biển” cũng như xây dựng các trạm quan trắc mới tại những vùng biển quan trọng như một phần của một kế hoạch tổng thể nhằm thiết lập một hệ thống gồm tổng cộng 35 trạm quan sát tài nguyên và môi trường biển trước năm 2020. 

Mạng lưới tích hợp này, một phần quan trọng của một dự án gồm 3 giai đoạn được lên kế hoạch bởi Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI), sẽ giúp cải thiện năng lực quản lý quốc gia đối với biển và các đảo thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trong đó, mạng lưới này cũng được thiết kế với mục đích an ninh quốc phòng, tạo ra một nền tảng rõ ràng cho các nỗ lực phát triển năng lực ISR của Việt Nam.

Với đường bờ biển dài 3.444 km (không tính các đảo) và vùng biển rộng lớn bao gồm các khu vực có đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam rõ ràng cần một chiến lược ISR toàn diện để tăng cường năng lực nhận thức biển cũng như năng lực định vị mục tiêu trên biển trong thời chiến cũng như thời bình. 

Năng lực ISR liên quan đến các hệ thống được đặt trên không gian, thường được ẩn giấu dưới lớp vỏ nghe có vẻ dân sự là phát triển “vệ tinh quan sát Trái đất”, cấu thành một khía cạnh quan trọng trong nỗ lực cải thiện năng lực ISR của Việt Nam. Điều đó bắt đầu với “Chiến lược Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Vũ trụ của Việt Nam đến năm 2020” được thông qua vào tháng 6 năm 2006 với vốn đầu tư 2 tỷ đôla. 

Chưa đầy một năm sau, Viện Công nghệ Vũ trụ (STI) đã được thành lập để đảm nhiệm việc nghiên cứu khoa học và công nghệ vũ trụ, dường như tập trung hơn vào các ứng dụng dân sự. Phó Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) Nguyễn Đình Công cho biết chiến lược giúp phát triển những vệ tinh quan sát Trái đất nhỏ nội địa.

Nhưng ở đây, rõ ràng có một ý nghĩa quân sự nhất định. Trở lại tháng 12 năm 2008, Chủ tịch Chương trình Nghiên cứu Quốc gia về Khoa học và Công nghệ Vũ trụ Nguyễn Khoa Sơn nói rằng “Nếu chúng tôi có vệ tinh riêng, chúng tôi có thể ứng phó nhanh chóng hơn với thiên tai và chủ động hơn trong các hoạt động quốc phòng an ninh”. 

Ngoài ra, Ủy ban Vũ trụ Việt Nam, thành lập năm 2010 và có nhiệm vụ tư vấn cho thủ tướng về việc thực thi chiến lược vũ trụ, đã được tăng cường nhân sự vào tháng 1 năm 2013 bao gồm đại diện từ các cơ quan chính phủ khác, đặc biệt là bộ Quốc phòng.

Theo xu hướng vốn điển hình cho một quốc gia mới nổi muốn sở hữu vệ tinh, Việt Nam trước tiên khởi đầu với các vệ tinh liên lạc (communications satellites). Sau vài trì hoãn, Việt Nam đã phóng vệ tinh VINASAT-1 vào tháng 4 năm 2008, sau đó là VINASAT-2 vào tháng 5 năm 2012. Người Việt Nam đã cho thấy họ học hỏi nhanh như thế nào. 

Lockheed Martin, nhà thầu cho cả hai vệ tinh VINASAT, ca ngợi năng lực của các kỹ sư Việt Nam trong việc làm chủ kỹ năng điều khiển các vệ tinh. Lockheed Martin trao quyền điều khiển VINASAT-2 cho chính quyền Việt Nam vào tháng 7 năm 2012, hai tháng sau khi vệ tinh được phóng đi. 

Việc chuyển giao rút ngắn chỉ còn phân nửa thời gian giành cho VINASAT-1, được giao lại cho Hà Nội vào tháng 8 năm 2008 – chứng minh ở một mức độ nào đó khả năng chiếm lĩnh kỹ thuật của Việt Nam.

Koh Swee Lean Collin
Xem thêm các kỳ:

Tin đọc nhiều

Đuổi quân Tưởng về nước, Việt Nam tránh “lưỡng đầu thọ địch” Tướng Giáp nhận định, đàm phán là giải pháp được lựa chọn do...
Bản Tuyên ngôn độc lập sống mãi Bản Tuyên ngôn độc lập vẫn giữ được vị thế trong đài tưởng...
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm mọi cách để có hòa bình Đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, đê điều ở miền Bắc ở...
Người Do Thái coi trọng chuyện học hành (P6) Khi gặp nạn, vật đầu tiên và cũng là vật quý giá nhất mà...