Tháng 08, 2018
Thứ hai
Thứ Bảy, ngày 22/08/2015 11:10 AM (GMT+7)

Phát triển nhân lực cho KHCN: Cần một vị thế mới

Việc xây dựng nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao ở Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn do những yếu tố về cơ chế thu hút nhân tài, điều kiện làm việc cũng như chính sách tiền lương còn nhiều bất cập.

Nhiều khó khăn trong xây dựng nguồn nhân lực

Theo ThS. Lý Thu Thủy, Bộ môn Quản lý tài chính công, Học viện hành chính Quốc gia TP.HCM, nhân lực là yếu tố quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong đó, trình độ nguồn nhân lực chính là thước đo cho sự phát triển đó. 

Nghị quyết số 20/NQ-TW của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 6 khóa XI cũng đã khẳng định : “Đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ”.

ThS Thủy cho rằng, nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay đang chuyển dần từ lợi thế so sánh dựa trên lao động giá rẻ sang lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa trên phát huy nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao, nắm vững khoa học công nghệ. Tuy nhiên, nguồn lực này lại đang tồn tại khá nhiều hạn chế. 

Thống kê của Bộ Khoa  học & Công nghệ cho thấy, đến cuối năm 2010, cả nước có 1.513 tổ chức khoa học công nghệ với tổng số nhân lực là 60.543 người, đạt tỷ lệ 7 người/ 1 vạn dân. Đây là con số khá khiêm tốn so với tổng nguồn lực lao động trong cả nước, dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực chất lượng cao để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong đề án quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, Nhà nước đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020, số cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ đạt 11 – 12 người/ vạn dân. Cùng với đó là hệ thống 5.000 doanh nghiệp khoa học công nghệ, 60 cơ sở ươm tạo công nghệ cao và ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, theo đánh giá, đây là con số khó lòng đạt được do chúng ta thiếu sự quan tâm đúng mức và kế hoạch cụ thể để đạt được những mục tiêu này. 

Cũng theo điều tra của Bộ KHCN, hiện tại, đội ngũ nhà khoa học có học hàm, học vị Giáo sư, Phó giáo sư hầu hết đều có tuổi đời gần 60. Số dưới 50 tuổi chỉ chiếm 12%. Số nhân lực có học vị tiến sĩ lên đến hơn 10.000 người song trình độ so với chuẩn quốc tế còn thấp. Đặc biệt, chỉ có khoảng 25% trong số đó có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh. Điều này khiến chúng ta thiếu một đội ngũ chuyên gia, tổng công trình sư cũng như các cán bộ trẻ có trình độ cao để kế cận.

Bên cạnh đó, mức thu nhập của lao động Việt Nam không cao. Theo thống kê năm 2013, lương 1 tháng trung bình của chúng ta rơi vào khoảng 197 USD/ người (tương đương 4,1 triệu đồng). Nếu tính riêng trong khối ASEAN, mức thu nhập này chỉ cao hơn Campuchia (121 USD), Indonexia (183 USD) và  Đông Ti Mo (174 USD). Trong khi lại chỉ bằng một nửa so với Thái Lan (391 USD) hay 1/3 so với Malaysia (651 USD) và 1/18 của Singapore (3.694 USD).

Phát triển nhân lực cho KHCN: Cần một vị thế mới - 1

Mức lương của nhiều nhà khoa học chưa tương xứng với trình độ chuyên môn cũng như công việc đang đảm nhiệm

Đặc biệt, đối với các nhà khoa học thuộc khu vực công, thu nhập được tính theo hệ thống thang, bảng lương mà chưa chú trọng đến yếu tố hiệu quả công việc. Do đó, không phản ánh đúng mức chênh lệch về trình độ chuyên môn cũng như công việc đang đảm nhiệm.

Hiện tại, hệ số lương của Giáo sư, Phó giáo sư bình quân là 5,99 (tương ứng với tiền lương 4,97 triệu đồng/ tháng). Trong khi lương của Tiến sĩ, Thạc sĩ lần lượt là 4 và 2,9 triệu đồng. So với mức sống hiện nay, tiền lương trả cho nhà khoa học rõ ràng không đủ sống ở mức trung bình. Điều này dẫn tới việc khó thu hút được người có trình độ chuyên môn cao ở lại phục vụ lâu dài, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay. 

Cần thêm nhiều sự đầu tư từ Nhà nước

Theo ThS. Hà Thị Thùy Dương, Học viện Chính trị Khu vực IV, để cải thiện được chất lượng nguồn nhân lực trong khoa học công nghệ, Nhà nước cần có những chính sách lâu dài nhằm nâng cao tiêu chuẩn giáo dục cũng như nỗ lực thu hút nguồn nhân lực nước ngoài. Trong đó, chính quyền cần đóng vai trò như một “nhà điều phối nguồn nhân lực có kỹ năng”, tức là hiểu rõ thị trường lao động đang cần nhân lực ở ngành nào, trình độ tới đâu để phân bố đào tạo. 

“Tại Singapore, Bộ Thương mại và Công nghiệp, Ủy ban phát triển kinh tế và Hội đồng giáo dục kỹ thuật - chuyên ngành đã hợp tác chặt chẽ với nhau từ nhiều năm nay để giám sát các nhu cầu về kỹ năng, nghề nghiệp trong tương lai. Tiêu chí để đánh giá là dựa theo sự đầu tư của các doanh nghiệp  trong và ngoài nước cũng như từ các tổ chức giáo dục. Điều này giúp cho Singapore có thể cân đối được nhu cầu đào tạo nhân sự giữa các ngành nghề, cũng như xây dựng được các kỹ năng cần thiết cho người lao động tùy theo biến động của thị trường”, ThS. Dương đưa ra ví dụ.

 Trong khi đó, ThS. Nguyễn Văn Liệt, Phó giám đốc Sở KHCN Đồng Nai cho rằng, để tạo ra được một đội ngũ nhà khoa học có trình độ chuyên môn cao, đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn từ phía Nhà nước cũng như đơn vị chủ quản. “Tính trung bình, để đưa một cán bộ đi đào tạo trình độ cao học ở nước ngoài, 1 năm tiêu tốn khoảng 50 – 70 ngàn USD, tương đương với hơn 1 tỷ đồng. Đây là một số tiền tương đối lớn. Thế nhưng, nếu tính đến những lợi ích mà cán bộ này sau khi học xong có thể mang lại, số tiền này rất đáng để đầu tư".

Tuy nhiên, theo ông Liệt, chúng ta cần tránh đầu tư một cách bừa bãi, đưa cán bộ đi học một cách tràn lan mà phải có sự thẩm định, lựa chọn những cá nhân xuất sắc hoặc những lĩnh vực, ngành nghề phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội. Nếu làm được chuyện này, đây có thể coi là một trong những phương án bền vững nhất để phát triển nguồn nhân lực phục vụ khoa học công nghệ nước nhà. 

Phát triển nhân lực cho KHCN: Cần một vị thế mới - 2

Xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao cần có sự đầu tư mạnh mẽ từ phía Nhà nước

Mặt khác, nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam, tháng 11/2014, Chính Phủ đã ban hành Nghị định về thu hút cá nhân hoạt động KHCN là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài tham gia hoạt động KHCN tại Việt Nam. Trong đó, có nhiều chính sách ưu đãi về lương bổng, điều kiện làm việc, nơi cư trú...

Tuy nhiên, theo ThS. Tạ Xuân Hoài, trường ĐH Tôn Đức Thắng, khả năng thành công của những chính sách thu hút này sẽ không cao. Nguyên nhân là do các nhà khoa học có tài thường được khắp nơi chào đón. Trong khi cơ chế làm việc của chúng ta chưa thực sự rõ ràng, điều kiện làm việc, nghiên cứu và cơ sở vật chất còn hạn chế, đồng lương chưa đủ hấp dẫn như các quốc gia khác.

 “Một lần, Viện nghiên cứu của chúng tôi sắp tuyển được một nhà khoa học tầm cỡ từ Australia về làm viện trưởng. Thế nhưng, khi Tổng thống Australia nghe tin nhà khoa học đó sắp bỏ Australia sang đây, ông đã điện thoại và thuyết phục vị ấy không nên đi, và thế là Viện chúng tôi mất đi cơ hội sở hữu một nhà khoa học đầu ngành”, ThS. Hoài chia sẻ.

Từ đây, Ths. Hoài cho rằng, một khi chúng ta chưa xây dựng được vị thế tốt trên bản đồ KHCN thế giới, thì Việt Nam sẽ khó có thể thu hút được các chuyên gia hàng đầu về làm việc cho mình. Riêng về cơ chế chính sách, Nhà nước và Bộ KHCN chỉ cần đưa ra khung chính sách chung, còn chi tiết về hợp đồng làm việc và lương bổng nên để cho trường ĐH hay Viện nghiên cứu phụ trách. Lý do là mỗi chuyên ngành khoa học đòi hỏi những chi tiết cụ thể khác nhau, và không thể nào có một bộ tiêu chuẩn hay quy định cho tất cả các ngành khoa học. 

Thiện An

Tin đọc nhiều

Cách khôi phục lại các ứng dụng đã xóa trên Android Chỉ với vài thao tác đơn giản, bạn hoàn toàn có thể phục hồi...
Đoàn giám sát của Quốc hội làm việc với các đơn vị KH&CN tại TP.HCM Đoàn giám sát của Quốc hội đã ghi nhận những ý kiến đề xuất...
Chính thức thành lập Viện di truyền y học tại TP.HCM Viện di truyền y học là nơi tập hợp các nhà khoa học trong...
Quay màn hình trên Windows 10 mà không cần phần mềm Nếu đang sử dụng Windows 10, bạn có thể tận dụng nhanh thanh...