Tháng 12, 2016
Thứ hai
Thứ Năm, ngày 27/02/2014 23:55 PM (GMT+7)

Chuyện Dũng 'khùng' 30 năm vớt xác ở sông Hồng

'Bám theo bờ sông một lúc nữa, trời bắt đầu tang tảng sáng, lúc đó tôi bỗng lạnh người khi thấy xác của 2 người, 3 người, và rồi cơ man xác chết không đếm xuể...', anh Dũng rùng mình nhớ lại.

Trong túp lều tuềnh toàng ở ngoài bãi Nhật Tân, Tây Hồ, Hà Nội – nơi gia đình anh Nguyễn Văn Dũng, tức Dũng “khùng” đang sinh sống, có lẽ chiếc bàn thờ là thứ có giá trị nhất.

Mấy chục năm gia đình anh bám rễ ở mảnh đất ngoài bãi Nhật Tân này, hằng ngày họ trồng đào, chăn nuôi gia súc và trồng màu để kiếm thêm thu nhập như bao người nông dân làng đào khác. Nhưng ít người biết được rằng, gần 30 năm qua, ngoài việc chăn nuôi, trồng trọt, anh Dũng còn lặng lẽ làm một việc rất có ý nghĩa, đó là vớt xác những người xấu số ở ngoài bãi sông Hồng.

Anh bảo, đến giờ anh đã vớt gần 500 người xấu số. Và toàn bộ số tiền lo hậu sự, mai táng cho những người vô danh đều do anh bỏ tiền túi ra làm. Cái tên Dũng “khùng” của anh cũng từ đó xuất hiện…

Túp lều tranh và những trái tim vàng    

Tối 30 tháng 6 âm lịch, tức chỉ còn chưa đầy vài canh giờ nữa là sang ngày mùng 1 tháng 7 âm lịch, cái tháng u uất, nặng nề đầy âm khí mà mọi người vẫn gọi là tháng cô hồn, chúng tôi tìm đến túp lều của vợ chồng anh Dũng “khùng” – người được mệnh danh là “người chuyên vớt xác sông Hồng”.

Chuyện Dũng 'khùng' 30 năm vớt xác ở sông Hồng - 1

Người đàn ông mang tên Dũng 'khùng' vớt xác ở sông Hồng.

Ngoài bãi Nhật Tân, sát mép sông Hồng gió thốc từng cơn mạnh khiến những cành đào nghiêng ngả, gió mang hơi lạnh, táp thẳng vào mặt. Đường ra bãi Nhật Tân tối đen như mực, không có một ngọn đèn đường chỉ dẫn, xung quanh chỉ toàn cây lá xào xạc, nếu không có người chỉ dẫn, chắc chúng tôi khó tìm được căn lều của vợ chồng anh Dũng “khùng”.     

Người đưa chúng tôi ra gặp anh Dũng hôm đó là người bạn nối khố, anh Dương Anh Sỹ, sinh năm 1969, người làng Nhật Tân, Tây Hồ, Hà Nội. Anh Sỹ bảo: “Mình với Dũng chơi thân với nhau từ tấm bé, tính tình bạn mình thế nào mình hiểu hết, và Dũng cũng vậy. Nếu người lạ mới gặp có thể thấy Dũng ít nói, trầm tính, nhưng Dũng là người sống nội tâm, luôn hết lòng vì mọi người, kể cả những người chưa từng quen biết.

Ví như chuyện bao năm qua Dũng làm cái công việc thầm lặng là đi vớt xác những người xấu số trôi sông thì đủ biết. Dũng làm chẳng vì ai, vì cái gì, chỉ là bởi Dũng thấy cần phải làm như vậy, để những người đã chết và người thân của họ đang còn sống không phải lăn tăn hay lo lắng điều gì nữa...”.    

Vào đến lều nhà Dũng “khùng” thì đã là hơn 8h tối. Đón chúng tôi là một người đàn ông đầu trọc lốc, nước da ngăm đen, dáng người rắn rỏi khỏe mạnh. Thấy chúng tôi, anh nở nụ cười tươi và bảo: “Vì có hẹn với nhà báo nên giờ này tôi mới ở nhà, chứ không tôi đã chèo thuyền ra bãi giữa xem lợn gà, vườn tược thế nào. Với lại mai là mùng một âm lịch, tôi cũng muốn nán lại nhà bảo vợ con chuẩn bị đồ lễ thắp hương cho chu tất. Nhà tôi ngoài bát nhang thờ cúng ông bà tổ tiên, bát nhang thờ vị thần sông thì tôi có bát nhang thờ những người chết xấu số vô danh, không có người nhà đến nhận”.

Chuyện Dũng 'khùng' 30 năm vớt xác ở sông Hồng - 2

Đôi bạn thân Nguyễn Văn Dũng và Dương Anh Sỹ trong túp lều của anh Dũng.

Vừa nói, Dũng vừa hướng mắt lên chiếc bàn thờ được treo trang trọng trên bức tường gần lối ra vào. Lúc ấy tôi mới để ý, có lẽ trong căn lều tuềnh toàng này thì chiếc bàn thờ kia là vật có giá trị và trông trang trọng nhất. Trên bàn thờ có hai lọ hoa cúc vàng tươi tắn, những đĩa hoa quả đầy đặn được bày biện rất cẩn thận, những xấp vàng mã để bên cạnh chứng tỏ những người ở đây rất chú trọng đến việc thờ cúng, lễ nghĩa.

Căn lều chừng hơn 30 mét vuông, bên trên lợp lớp tôn mỏng, có 4 chiếc cột bê tông dựng 4 góc, xung quanh là những tấm bạt che mưa nắng quây lại làm tường. Trong lều có 1 giường giẻ quạt chắc có độ vài chục năm, cạnh đó là tấm phản bằng gỗ ép đủ cho hai người nằm, phía ngoài là bộ bàn ghế cũ vừa là nơi tiếp khách, vừa là bàn ăn của gia đình, cách đó mấy bước chân là nơi đặt chiếc bếp gas cũ và chiếc  giá nhựa bày bát đũa rất sạch sẽ.    

Dũng “khùng” sinh năm 1970, nhìn nước da và khuôn mặt sạm đen từng trải của anh, mọi người ai cũng đều nghĩ anh già hơn tuổi. Gia đình anh ở làng Nhật Tân, ngôi làng từ xưa đến nay vẫn duy trì nghề trồng đào truyền thống. Từ khi lấy vợ rồi sinh con, anh Dũng xin phép bố mẹ ra ở riêng, anh đưa vợ con ra bãi Nhật Tân sinh sống cho thuận tiện. Hỏi anh, tại sao những người khác muốn cho vợ con ở những nơi thuận tiện, gần người thân để có thể qua lại giúp đỡ, chuyện trò thân thiết thì anh lại muốn đưa vợ con đến những nơi khó khăn, vất vả và xa xôi thế. Anh cười lành bảo: “Mệnh tôi là mệnh thủy, cứ được sống gần nước là tôi cảm thấy mình có đầy năng lượng để làm bao việc khác. Bố mẹ, vợ con tôi biết vậy nên luôn ủng hộ tôi, cho dù có vất vả chút, nhưng chúng tôi sống thoải mái, giúp đỡ được nhiều người thì còn vui vẻ hơn”.

Hồi đầu mới ra bãi Nhật Tân, vợ chồng anh sống đúng nghĩa "một túp lều tranh, hai quả tim vàng”. Túp lều ngày đó chưa được lợp tôn và có cột chống chắc chắn như bây giờ, anh bảo trông nó lụp xụp chẳng khác mấy cái lều vịt. Ngày đó cô con gái lớn của anh mới được 2 tuổi, còn đang bi bô nói, họ kéo nhau ra bãi Nhật Tân sống chủ yếu bằng nghề trồng đào, kéo đất bồi dưới sông lên bán cho những người trồng đào xung quanh. Tuy anh Dũng chẳng kể nhiều về thời kỳ khó khăn ấy, nhưng anh Sỹ, người bạn thân của anh thì lại nhớ rất rõ.

Anh bảo rằng, bạn mình đã quyết thế nào thì phải làm cho bằng được, bởi anh Dũng từng bảo rằng, việc gì mới làm chẳng khó, vạn sự khởi đầu nan mà, thế nên càng khó anh Dũng lại càng cố gắng, chăm chỉ hơn.

Ngày đó, bãi đào Nhật Tân hoang sơ, chỉ toàn ngô và lưa thưa mấy bãi đào, còn đâu cỏ mọc ngút. Nhưng từ ngày có vợ chồng người nông dân Dũng “khùng” ra khai hoang, bãi Nhật Tân như thêm sức sống. Ngày đó vợ chồng anh Dũng chỉ biết kéo từng xe đất về bán cho các hộ trồng đào, ngoài ra chỉ trông vào vụ đào tết, điều đó đủ nói cuộc sống của anh chị chật vật thế nào. Mấy năm sau thì cậu con trai thứ hai chào đời. Thêm miệng ăn là thêm khó khăn, thế nên từ đó anh ra bãi giữa khai hoang, cứ sáng bơi qua sông trồng màu, chăn nuôi thêm gà vịt, đến tối lại bơi về túp lều nhỏ của gia đình. Đã bao mùa con nước lên rồi cạn, bao mùa trăng khuyết lại tròn, cuộc sống của vợ chồng, cái con nhà anh Dũng cũng có phần ổn định hơn trước khi các cháu đã dần lớn và trưởng thành.

Chỉ có túp lều tranh của gia đình anh thì vẫn vậy, vẫn trống huếch trống hoác, mùa hè thì nóng như thiêu vì giữa đồng không mông quạnh, còn mùa rét thì tứ bề gió thốc, buốt lạnh cả khi đã chui vào chăn. Nhưng bù lại trong túp lều đó luôn ấm áp tình người, không chỉ với những người đang sống, mà với những người đã khuất không có người thân thừa nhận, vợ chồng anh Dũng đã giúp họ có được mồ yên mả đẹp mà chẳng chút phân vân cân nhắc hay tính toán thiệt hơn. Họ làm chỉ bởi đó là việc đáng phải làm…

Luôn trăn trở với những người xấu số

Anh Dũng không nhớ cụ thể mình đã vớt được bao người xấu số bị trôi sông trong mấy chục năm qua, nhưng anh có thể nhớ chính xác năm đầu tiên anh bắt đầu làm cái việc đặc biệt này. Đó là năm anh còn là cậu bé 13 tuổi, ngày ngày vẫn cùng các bạn trong làng ra bãi Nhật Tân trông đào và hoa màu cho gia đình, sau đó bơi ra bãi giữa bắt cá và chơi ở đó. Một hôm vào trưa mùa hè nắng cháy, cậu bé Dũng 13 tuổi đang ngồi trên bờ sông thì bỗng giật mình và thấy ớn lạnh lạnh khi phát hiện một xác người nổi lập lờ giữa sông. Dũng liền lao xuống sông và bơi lại gần cái xác. Cậu bé 13 tuổi còi cọc loay hoay không biết dùng cái gì để kéo xác vào bờ, cuối cùng Dũng đành bơi xuôi theo cái xác và đợi dòng nước đẩy dần vào bờ rồi kéo lên.

Với những đứa trẻ khác tầm tuổi đó, nếu thấy xác người chết trôi sông có lẽ sợ phát khiếp, nhưng anh Dũng lại khác, từ ngày nhỏ đã sống gần sông nước, và luôn thấy có lỗi nếu không làm việc gì đó giúp đỡ. "Nếu thấy xác chết trôi qua mà không quay lại vớt sẽ thấy lòng dạ bứt rứt không yên, rồi người nhà của họ biết đâu mà tìm, người chết mà mất xác, không được chôn cất tử tế thì tội cho cả người chết lẫn người sống", anh tâm sự.

Cũng từ năm đó anh Dũng bỗng phát hiện ra mình có điều gì đó khác người, đó là trước mỗi lần vớt được xác người chết là mỗi lần anh đều được giác quan thứ 6 mách bảo. Ấy là những lần anh nằm mơ thấy người kêu cứu, là những chiều bỗng người lạnh toát, bứt rứt và muốn chạy thật nhanh ra bờ sông xem có chuyện gì đang xảy ra, xem có ai đang cần giúp đỡ không. Và lần nào cũng vậy, cứ sau mỗi lần như thế, anh lại đưa được những xác người xấu số vào bờ để họ có một hậu sự bình yên.

Anh Dũng còn nhớ, vào khoảng 3h sáng mùa đông hồi những năm 90, khi đó anh đang chuẩn bị dắt bò đi cày thì bỗng thấy nóng ruột, bứt rứt không yên. Rồi bên tai anh như có tiếng người nhốn nháo, la hét. Hôm đó đang là mùa đông rét cắt da cắt thịt, nhưng khắp người anh mồ hôi vã ra như tắm. Linh tính đó báo cho anh biết có chuyện không hay xảy ra. Anh vội bảo với chị Lan, vợ anh rằng: “Anh phải ra sông xem có chuyện gì không, anh nghe thấy có người kêu cứu, la hét dữ lắm”. Lúc đó xung quanh túp lều của anh chị là bóng tối tĩnh mịch, nhưng biết tính chồng mình, cứ đang yên đang lành bảo nóng ruột đòi ra sông thì chắc chắn sẽ có chuyện, thế nên chị vội vàng mặc áo ấm, cầm đèn và dây thừng chạy theo chồng.

Anh Dũng cứ để chân trần chạy dọc mép sông, anh chạy mải miết quên cả lạnh, quên cả rét để tìm xem những người kêu cứu, la hét bên tai mình là ai. Chạy được khoảng 500 mét thì anh thấy bên bờ sông dạt vào bao nhiêu là gói mỳ tôm, mì chính, thuốc lá, kẹo bánh, đồ đạc…, chạy thêm khoảng hơn chục bước nữa thì anh thấy có một đôi chân người chết vắt lên bờ. Anh Dũng vội xuống kéo lên thì biết được đó là xác một người phụ nữ trung tuổi, người này có vẻ như mới tử vong vài giờ rồi trôi về đây.

"Bám theo bờ sông một lúc nữa, trời bắt đầu tang tảng sáng, lúc đó tôi bỗng lạnh người khi thấy xác của 2 người, 3 người, và rồi cơ man xác không đếm xuể nữa. Lúc đó, cứ thế tôi lao xuống sông, tay cầm dây thừng kéo những người xấu số, tay kia khỏa nước bơi đưa họ vào bờ", anh rùng mình kể. Trong khi anh Dũng ngụp lặn dưới dòng nước xiết để đưa những người chết lên bờ, thì chị Lan vợ anh ba chân bốn cẳng chạy đi kêu gọi mọi người cùng ra sông ứng cứu.

Lúc đó chị mới biết đây là vụ tai nạn đắm đò Phú Thượng vừa xảy ra trong đêm, những nạn nhân bị chết trên chuyến đò định mệnh đó đều là những người đi chợ sớm, họ mang hàng qua sông để bán hàng vào lúc sáng sớm. Rồi chính quyền địa phương, lực lượng Công an và thân nhân của những người bị chết cũng có mặt ở  bãi Nhật Tân tìm thi thể người thân của mình.

Hôm đó anh Dũng hoạt động như con thoi, hết lên bờ rồi lại lao xuống dòng nước, có người anh vớt được lên ngay, nhưng có người anh phải bơi tìm kiếm khắp nơi, có lúc phải bơi lên tận cầu Long Biên mới vớt được xác. Hôm đó, suốt từ 2h sáng cho đến 2h chiều thì anh đưa được cả thảy 29 xác người chết lên bờ và giao lại cho người thân của họ đưa về lo mai táng, hậu sự.

Không chỉ vụ đắm đò Phú Thượng, vụ cháy chợ Đồng Xuân đã khiến không ít người chết trôi sông, mà cũng tại bến sông này anh Dũng đã tìm được xác bao người xấu số. Cách đây vài năm, anh Dũng và anh Sỹ đã cùng nhau lặn ngụp mấy ngày đêm để đưa xác 5 cháu học sinh lên bờ. Lần nào như vậy các anh cũng bần thần, buồn bã rất nhiều ngày, bởi sao lại có những cái chết thảm thương như vậy.

Gần đây nhất, vào đêm mùng 2/8/2013, anh Dũng đang nằm lơ mơ thì nghe có tiếng người nói vọng bên tai: “Chú ơi, chú xuống đưa cháu lên với, cháu vừa từ cầu Thăng Long xuống”. Thế là anh hớt hải chạy ra sông tìm kiếm, lát sau anh thấy ở giữa dòng có xác một người đang nổi lập lờ. Khi đưa lên bờ anh mới biết đó là một cậu thanh niên còn khá trẻ. May mắn là trong quần áo của nạn nhân, anh Dũng tìm thấy giấy tờ tùy thân của cậu này.

Từ địa chỉ đó anh đã liên lạc được cho bố mẹ, gia đình cậu đến nhận xác con về. Sau đó anh được biết, cậu này là cán bộ của một cơ quan lớn trên địa bàn Hà Nội, vì buồn chuyện gia đình và những lý do khó chia sẻ, anh đã dại dột tìm đến cái chết bằng cách gieo mình từ cầu Thăng Long xuống.

Bố mẹ cậu thanh niên khi đến nhận xác con cứ khóc như mưa, cảm ơn anh đã giúp họ vớt xác. Hôm đó gia đình này mang đến biếu anh Dũng một bọc tiền lớn nhưng anh Dũng nhất quyết từ chối. Anh bảo, anh làm việc này không phải vì tiền, đâu phải anh kinh doanh trên nỗi đau người khác, anh làm bởi đó là số mệnh của anh, không thể khác được. 

Vật bất ly thân của anh Dũng là một cuộn dây thừng, cứ ra sông là anh mang nó theo, để bất cứ lúc nào nếu thấy xác người chết là anh có thể đưa họ vào bờ được. Ngày trước còn khó khăn, phương tiện của anh còn thiếu thốn, thuyền bè không có nên anh toàn phải làm “tay bo”. Nghĩa là nếu thấy xác chết là anh bơi ra rồi dùng dây kéo vào, khi khỏe không sao, gặp phải ngày sức khỏe yếu cộng với thời tiết xấu, nước chảy xiết, anh chỉ còn cách nín thở trôi xuôi theo xác đó, đợi đến khi dòng chảy đẩy dần vào bờ thì mới kéo họ lên để tránh bị mất sức mà không ăn thua. Giờ có thuyền bè hỗ trợ, việc vớt xác của anh cũng đỡ vất vả hơn, nhưng mỗi lần đưa một người vào bờ là anh lại thẫy thẫn thờ, buồn bã mất vài ngày…

Vẫn day dứt với nghĩa trang của những người vô danh

Đối với những người chết xấu số may mắn có người thân tìm đến đưa về lo hậu sự thì không sao, nhưng với những người vô danh, không có người đến tìm thì anh Dũng phải đứng ra lo chu toàn từ đầu tới cuối. Mỗi người anh đều cúng bái cẩn thận, mua áo quan, sắm đồ đạc và chôn cất họ tử tế thì anh mới yên lòng.

Nhưng địa điểm chôn cất những người chết vô danh kia không hề đơn giản chút nào. Cách đây hơn chục năm, phải qua bao vất vả, lên xuống không biết bao lần thì anh Dũng mới được chính quyền phường đồng ý cho an táng những người chết vô danh trên khoảnh đất nhỏ ở khu vườn đào Nhật Tân. Những năm sau này, số người chết vô danh tăng lên trên con số 10, anh Dũng đều đưa họ vào an táng ở đó, đồng thời anh tự bỏ tiền ra xây tường bao quanh khu nghĩa trang cho đàng hoàng, đẹp đẽ hơn.

Anh tâm sự, người chết xuống suối vàng cũng phải được ở những nơi đẹp đẽ chứ không thể úi xùi, thế nên có đồng nào là anh lại sửa sang cho khu nghĩa trang đẹp đẽ hơn, tuy chỉ là nghĩa trang nhỏ, nhưng nhìn rất cẩn thận, thể hiện sự trân trọng của người sống với những người đang nằm dưới mộ. 

Theo lời anh Sỹ - bạn thân của anh Dũng, với mỗi người chết vô danh, không có gia đình đến nhận, anh Dũng đều bỏ tiền túi từ 2-3 triệu đồng để lo hậu sự cho họ, số tiền đó với những gia đình khác chẳng là gì, nhưng với một gia đình thuần nông như anh Dũng thì đó là khoản tiền không nhỏ. Vậy nhưng, cho dù thiếu tiền thì anh cố gắng chắt bóp, làm lụng thêm để có chứ không bao giờ nhận tiền hậu tạ của bất kỳ gia đình nào.

Đúng hôm chúng tôi xuống nhà, anh Dũng vừa bán đàn gà 40 con được vài triệu đồng, số tiền đó anh vội gói ghém để mang đi trả nợ. Anh cười ngượng ngịu bảo: “Hôm đó cần tiền mua lợn giống, gà giống mà chẳng biết lấy từ nguồn nào, bí quá phải nhờ Sỹ vay hộ, có khoản nào phải trả ngay cho yên tâm”. Thấy bạn mình nói vậy, anh Sỹ đỡ lời: “Đúng hôm Dũng đi vay lãi thì cũng là ngày người nhà một nạn nhân được Dũng đưa vào bờ tìm đến cảm ơn. Họ đưa cho Dũng 50 triệu đồng nhưng Dũng nhất quyết từ chối. Họ nói thế nào cậu ấy cũng không đồng ý. Khi họ về rồi Dũng mới nhờ tôi đi vay nóng 16 triệu đồng để mua con giống. Ngẫm mà thấy thương và phục bạn mình vô cùng”.

Dù vất vả với nghề trồng trọt, chăn nuôi, nhưng với những người nông dân thuần chất như vợ chồng anh Dũng thì khó khăn vẫn còn nhiều lắm. Chị Lan bảo rằng, ở bãi giữa nhà chị nuôi hàng trăm con gà, mấy đàn lợn, còn rau sạch thì "các thể loại", nhưng để bán được ra thị trường không phải là dễ. Bao năm qua gia đình chị chỉ bán cho mấy người đi chợ, hoặc những ai quen thân với gia đình, biết được những hàng nông sản sạch, thực phẩm sạch nhà chị thì tìm đến mua, chứ để mở rộng ra thị trường thì chị chẳng biết làm thế nào.

Hồi đầu mới sang bãi giữa, tiền vốn không có để mua cây giống, con giống và khai hoang, anh chị vay mượn, lần hồi khắp nơi đều không có tiền, bí quá hai vợ chồng liền bàn nhau: Hay là mang sổ đỏ đất nhà mình đi đặt ngân hàng để vay tiền. Nhưng oái oăm là đất nhà anh chị đang ở là đất để canh tác, không phải đất ở nên không thể làm thủ tục vay tiền. Đến khi trồng được những sản phẩm sạch, muốn bán ra thị trường thì các cơ quan chức năng lại yêu cầu phải có chứng nhận sản phẩm, mà nếu có những chứng nhận đó lại phải có mã số thuế.

Chị Lan chia sẻ: “Nghe mà tôi chẳng hiểu gì cô ạ, chúng tôi nông dân đơn thuần, trồng rau sạch, nuôi gà sạch, không gì dính đến tăng trọng với hóa chất, thế mà hàng hóa chẳng bán được. Cứ đến vụ rau nếu bán được cho ai thì bán, còn không cứ để nó úng ra đấy, nhìn mà thắt hết cả ruột nhưng không biết làm thế nào…”.

Tôi thấy chị Lan chỉ than thở về những gập ghềnh trong việc làm ăn thế thôi, nhưng tuyệt nhiên trong suốt buổi trò chuyện, tôi không hề nghe thấy chị oán trách số phận hay hoàn cảnh khó khăn của mình.Với người nghĩa hiệp như anh Dũng, luôn luôn giúp đỡ người khác không vụ lợi thì anh và gia đình rồi sẽ nhận được những điều tốt đẹp. Điều này, được chứng minh một phần bằng việc cô con gái lớn của anh chị vừa được nhận vào làm y tá cho một bệnh viện phụ sản ở Hà Nội, công việc ổn định, mức lương phù hợp để hỗ trợ thêm bố mẹ nuôi em ăn học.

Còn cậu con trai của anh chị hiện đang học lớp 10, cháu rất ngoan và chịu khó giúp đỡ bố. Mỗi đêm mà có người trôi sông, cháu vẫn thường đi hỗ trợ bố đưa xác vào bờ. Người giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn đó với vợ chồng anh Dũng nhiều nhất chính là người bạn thân Dương Anh Sỹ.

Anh Sỹ giờ là chủ một tiệm cà phê nhỏ tọa lạc bên đường Âu Cơ. Dù là làm ông chủ, cuộc sống có chút thuận lợi hơn anh Dũng, nhưng anh Sỹ chưa khi nào quên thuở hàn vi, nghèo khó thời họ cùng lớn lên và trưởng thành bên nhau. Ngay cả bây giờ, mỗi khi thấy anh Dũng báo có tin người chết trôi sông là anh Sỹ lại tất tả ra bãi Nhật Tân cùng đi lặn tìm xác với bạn mình. Buổi sáng hôm tôi đang ngồi viết bài về các anh thì thấy anh Sỹ gọi điện đến bảo rằng, sáng nay anh và anh Dũng lại nhận được tin có một người nhảy cầu, gia đình họ đang nhờ các anh đi tìm vớt xác hộ. Hai anh vội vã lên đường ngay, nhưng hôm đó cũng là ngày cơn bão số 6 đang hoành hành khắp nơi, nhưng mặc sóng to, gió lớn, các anh vẫn lên thuyền ngược sóng đi tìm.

Giờ đây, đôi bạn thân “Dũng – Sỹ” đã là một địa chỉ đáng tin cậy để những gia đình chẳng may có người thân qua đời mà chưa tìm được xác tìm đến để cậy nhờ. Nhìn vào các anh, không ít người sẽ biết sống thế nào để cuộc sống mỗi ngày không trôi qua vô nghĩa.

Hương Giang

Tin đọc nhiều

Bố quỳ ngoài đường tìm con trai mất tích: Cháu bé đang sống cùng mẹ ruột Cháu Quang Minh hiện đang sống cùng mẹ ruột của mình là chị...
Quảng Trị: Bác sỹ từ chối mổ, trẻ 4,8kg mới sinh bị tật nguyền? Cháu gái vừa lọt lòng mẹ đã bị tím tái, chẩn đoán gãy xương...
Hà Nội: Người đàn ông tử vong bất thường trong ô tô Thấy một chiếc ô tô đỗ bên vệ đường khá lâu, sau đó kiểm tra...
Vợ “chết điếng” khi thấy chồng nằm bất động trên đường Nghe tin chồng gặp nạn trong đêm, người phụ nữ chạy tới hiện...