Tháng 12, 2016
Thứ sáu
Thứ Bảy, ngày 10/08/2013 11:46 AM (GMT+7)

“Bực vì người Nhật hỏi nhiều”

“Có những đối tác phía cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) hỏi đi hỏi lại một việc, cứ tưởng họ quên. Nhưng không phải, người Nhật làm việc rất tỉ mỉ, quá trình chuẩn bị cực kỳ kỹ lưỡng, đến khi làm rất nhanh. Còn người Việt Nam mình cứ nói đồng ý nhé, nhưng hàng năm sau vẫn chưa làm được”, ông Lê Xuân Bá, viện trưởng viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) chia sẻ tại buổi thảo luận về hợp tác Việt – Nhật để hiện đại hoá công nghiệp, sáng 8.8 tại Hà Nội.

Dẫn chứng sinh động hơn về khía cạnh này, ông Đinh Mạnh Hùng, phó giám đốc trung tâm Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (VCCI) nói, chẳng hạn như tại khu công nghiệp Đại An (Hải Dương), khi biết Việt Nam muốn lôi kéo các doanh nghiệp lắp ráp máy in vào, Nhật đã gửi 4.500 câu hỏi tới bốn thành phố của Nhật có thế mạnh về ngành này. Nội dung chính là hỏi các doanh nghiệp nếu sang Việt Nam thì cần gì, có khó khăn gì. Điều đó cho thấy Nhật Bản làm nghiên cứu thị trường rất căn bản.

“Bực vì người Nhật hỏi nhiều” - 1

Hợp tác lao động giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển. Trong ảnh: Tu nghiệp sinh Việt Nam tại Nhật Bản. Ảnh: Lao động

Với chủ đề “Chiến lược công nghiệp hoá của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, các đại biểu là đại diện các bộ ngành, địa phương ở phía Bắc đã tham dự cuộc thảo luận này. Hai cuộc thảo luận sắp tới sẽ được tổ chức tại Đà Nẵng và TP.HCM.

Ông Đinh Mạnh Hùng nói tiếp, một trong những cái khó của phát triển doanh nghiệp là đầu ra. Và việc nghiên cứu thị trường sẽ quyết định thành công của chiến lược (công nghiệp hoá) trong tương lai. Chẳng hạn với ngành điện tử, Việt Nam phải nhìn xem thị trường ở đâu, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam thế nào, năng lực của đối tác Nhật ra sao.

Cán bộ có dám gương mẫu đi ôtô nội không?

Ông Lê Xuân Bá tiết lộ, trong số các ngành được chọn ưu tiên hợp tác, ban đầu phía Nhật không muốn chọn công nghiệp ôtô, vì từ giờ đến 2018 (khi Việt Nam gần như mở cửa toàn bộ, hàng hoá nước ngoài tràn vào), thời gian còn quá ngắn. Nếu Việt Nam vẫn cứ làm cái cách “vòng vo tam quốc” như vừa qua thì năm năm rất khó để thành công.

Từ đó, ông Bá khẳng định, chính sách của Việt Nam rất quan trọng cho chiến lược công nghiệp hoá. Ông lấy ví dụ, khi sang Malaysia khảo sát, ông biết nước này có chính sách là bất cứ xe nào chạy trên đường mà mua bằng tiền ngân sách thì phải là xe nội địa Proton, từ nhà vua trở xuống. Trong khi đó, ở Việt Nam, các quan chức vẫn xài xe sang của nước ngoài. Vậy thì sản xuất ra bán cho ai? Chưa kể hôm nay tăng thuế, mai tăng biển đăng ký, ngày kia xe chẵn, xe lẻ….

“Việt Nam có dám tuyên bố, chẳng hạn từ ngày 1.1.2014, tiền ngân sách chỉ chi mua xe sản xuất trong nước không? Các quan chức cao cấp có dám gương mẫu bỏ xe Camry, Lexus… để đi xe lắp ráp tại Việt Nam không? Có ý kiến cho rằng nếu Việt Nam dũng cảm làm được như Malaysia thì công nghiệp ôtô có thể phát triển nhanh”, ông Bá nhấn mạnh.

Viện trưởng CIEM khái quát, vấn đề với các ngành khác cũng thế, chính sách cụ thể là gì, miễn thuế bao nhiêu, cho cái nào, bao lâu, miễn ở Hải Phòng hay Bà Rịa… “chứ không phải nói chơi chơi”.

Máy chế biến nông nghiệp: phục vụ một mùa?

Đồng tình với các ý kiến, Việt Nam không thể phát triển chiến lược kiểu “quả mít”, ông Ngô Đại Ngọc, phó giám đốc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội lưu ý, chương trình này cần phải tập trung vấn đề gì? Chẳng hạn, ở miền Bắc với sản xuất manh mún, vải Lục Ngạn (Bắc Giang) chỉ kéo dài một tháng là hết rồi. Vậy phải nghiên cứu xem máy móc chế biến và bảo quản thế nào cho hợp lý, không lãng phí… Trong khi sơ chế và bảo quản của Việt Nam vẫn yếu kém nên chủ yếu xuất khẩu thô.

Đáng chú ý, ông Ngọc cho hay, chính sách cơ giới hoá của Hà Nội thời gian qua không làm được, đạt thấp nhất, vì người dân mua máy phải chi hoá đơn đỏ 10%, Nhà nước hỗ trợ 12% trong ba năm thì không có lãi.

Thêm nữa, mặc dù có các viện nghiên cứu máy nông nghiệp của các bộ, nhưng khi hỏi ra thì các ông bảo “Nhà nước không cho tiền”, cơ khí nông nghiệp không phát triển được. Có lẽ đó là lý do sở Nông nghiệp Hà Nội “giật mình” khi phát hiện không thấy có máy nào của Việt Nam, toàn là nhập hết, khi thực hiện đề án cơ giới hoá gần đây.

“Khi đã xác định là chủ lực thì phải có chính sách ưu đãi, để ngành đó phát triển tác động đến toàn ngành kinh tế”, ông Ngọc nhấn mạnh và nói cách đây 40 năm, chúng ta có máy cày cho nông dân, nhưng đến nay vẫn còn con trâu đi trước cái cày theo sau. Chúng ta hô hào rất nhiều công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng đến giờ cảm tưởng công nghiệp hoá cho nông nghiệp rất yếu kém.

Cuối buổi thảo luận, ông Lê Xuân Bá nói vui, có người cho rằng, khoa học công nghệ là then chốt ở Việt Nam có nghĩa là “nhốt trong phòng rồi cài then”.

Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản thống nhất ưu tiên phát triển sáu ngành chủ lực trong hợp tác là: điện tử; máy nông nghiệp; chế biến nông, thuỷ sản; đóng tàu, môi trường và tiết kiệm năng lượng; sản xuất ôtô và phụ tùng ôtô. Điểm nhấn là “không ôm đồm”. Ban chỉ đạo quốc gia do phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải làm trưởng ban, bộ trưởng bộ Kế hoạch và đầu tư làm phó ban.
Theo Việt Anh (Sài Gòn Tiếp Thị)

Tin đọc nhiều

Bạn có tin vào số phận không? Một nghiên cứu cho thấy những người tin vào may mắn có nhiều...
Nỗi sợ bị bỏ quên 15% dân số có vấn đề về sức khỏe tâm thần là một tỷ lệ rất...
Có diệt được lòng tham trong mỗi chúng ta không? Làm thế nào để chống “địch nội xâm”, tức chủ nghĩa...
Tiền bạc đâm toạc lương tâm Nước mắm sản xuất theo phương thức truyền thống, có độ đạm...