Tháng 09, 2017
Chủ nhật
Thứ Hai, ngày 01/05/2017 08:14 AM (GMT+7)

Chúng tôi, vẫn tự hào là "người lính Cụ Hồ" trên mặt trận mới

Hơn 40 năm nước nhà thống nhất, độc lập, chúng tôi vẫn tự hào “Là lính Cụ Hồ”.

Chúng tôi – những người đã một thời mặc áo lính, lại có những thời khắc bồi hồi sống trong những kỷ niệm buồn vui lẫn lộn, của năm tháng chiến tranh gian khổ nhưng hết sức hào hùng của dân tộc. Không tự hào sao được khi góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc kháng chiến vĩ đại, vì nền độc lập dân tộc…

Chính những năm tháng trong quân ngũ đó, người ở bộ đội lâu, tham gia vài ba chiến dịch; người tham gia quân đội ngắn, chưa kịp bạc màu một mùa phát quân trang... nhưng tất cả chúng tôi đã được rèn luyện và trưởng thành, để có được phẩm chất của anh bộ đội Cụ Hồ.

Đến tận hôm nay, hơn 40 năm nước nhà thống nhất, độc lập, chúng tôi vẫn tự hào "là lính Cụ Hồ”.

Chúng tôi, vẫn tự hào là "người lính Cụ Hồ" trên mặt trận mới - 1

Ảnh minh họa. 

Là bộ đội Cụ Hồ, những người lính như chúng thôi không sợ gian khổ. Bởi chẳng ai có thể khổ hơn người lính trong chiến tranh. Đó là điều bình thường, khát cháy ruột gan là chuyện vặt. Nỗi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ thầy u và nhớ da diết hình ai đó…  

Những đêm dài mùa đông gió rét, chúng tôi lội qua những cánh đồng sình lầy hoang vu hơn 10 cây số với ba lô nặng trĩu trên vai. Để sáng ra về đích đã lăn ra ngủ quên cả đỉa bám trên người, đỉa cũng đã hút đầy máu, no trò lăn ra đất ngủ cùng người lính trẻ.

Những chiều biên giới mây giăng mờ đỉnh Trường Sơn, những người lính âm thầm hành quân, đôi bàn chân đã từ lâu sưng vù tím tái, ứa máu vì đá tai mèo sắc hơn dao cạo. Chúng tôi dựa vào nhau, dựa vào chiếc gậy Trường Sơn để xuyên rừng trước khi bom tọa độ đánh trống cầm canh.

Mỗi địa danh, mỗi cánh rừng còn in đậm dấu chân đồng đội chúng tôi và níu giữ những kỷ niệm của một thời trai trẻ.

Có người hỏi: “Thế hồi ấy có sợ chết không?” Sợ chứ! Sợ khi cầm tờ lệnh điều động đi B. Sợ khi tàu rời ga Hàng Cỏ, chạy xình xịch qua Công viên Thống nhất, mà chẳng có bao giờ trở lại. Sợ vì chia tay, không dám hẹn ngày về. Bởi chiến tranh đâu phải trò đùa.

Thế nhưng, chúng tôi ra mặt trận thì không còn nỗi sợ nào đeo bám. Quân lệnh như sơn, bất di bất dịch... Sống và chết đan xen, ngày và đêm hòa trộn.

Những người lính chúng tôi còn biết sợ, bởi vì nơi quê nhà, chúng tôi có những bà mẹ già đau đáu thương con, lẽ sống của bà là gửi tình thương vô bờ cho anh em chúng tôi nơi trận mạc. Những chị những em đã nhịn ăn, nhịn mặc, khắc khoải đợi chờ và dành cho chúng tôi niềm tin chiến thắng.

Và rồi dọc đường hành quân, những O thanh niên xung phong trong màu lá ngụy trang, vác đá, chặt cây, mở đường cho xe ra mặt trận. Trong thiếu thốn trăm bề vẫn một niềm tin yêu tuyệt đối: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng quân thù.

Chúng tôi đã hành quân ra trận với khí thế: “Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

Những người lính chúng tôi trân quý nhau như ruột thịt. Không phải chỉ vì sống chết có nhau, đã là lính thì rất nhanh trở nên thân thiết. Điếu thuốc chia 5, mẩu khoai bẻ 6, chăn chiên đắp cùng, ghẻ khắp sư đoàn. Không thiệt hơn tính toán, không riêng tư, vụ lợi. Sốt rét rừng từng cơn mà cứ nhường nhau một viên Aspirin cuối cùng, để rồi nghiền ra, cho vào nước uống chung nhau mỗi người một ngụm.

Trong ba lô của mỗi chúng tôi đều đã có sẵn Giấy báo tử và điếu văn truy điệu. Một lọ thủy tinh để phòng ghi tên tuổi, một mảnh tăng nilon vừa là áo mưa, làm phao bơi khi lội qua sông qua suối, vừa làm “săng” khi bị hy sinh. Điều đó là thường bởi chúng tôi đều hiểu: Chiến tranh đâu phải trò đùa.

Cách đây mấy hôm rồi, tôi có dịp cùng đồng đội đi thăm Nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM – Nghĩa trang bà mẹ cầm khăn.

Giữa không gian tĩnh lặng, hơn 15.000 ngôi mộ quây tụ thành từng bông 6 mộ, ngay ngắn, thẳng hàng. Các anh vẫn cùng đồng đội đêm đêm tập hợp thành những binh đoàn. Họ níu kéo hay khói hương ngào ngạt mà chúng tôi, ai cũng mủi lòng, gọi tên từng người, từng người trong tiếng phi lao reo.

Các anh ấy vẫn đang có nhau, từng khu mộ đồng hương, nhưng phải mãi mãi xa quê. Chúng tôi may mắn hơn, những cựu quân nhân và thanh niên xung phong còn sống, mãi mãi sẽ xứng đáng với niềm tin đồng đội mà các anh không có được hôm nay.

Những người lính chúng tôi trọng danh dự và giản dị. Phải tự hào nói rằng quân đội đã dạy cho chúng tôi tác phong kỷ luật và biết sống chân tình. Ghét thì nói là ghét, thích thì bảo là thích, ăn bằng thúng, đong bằng thùng, nói thẳng, nói thật. Chính điều đó gắn kết mỗi chúng tôi, tạo nên sức mạnh để vượt lên cái “tôi” của cuộc đời.

Hàng năm, chúng tôi vẫn đi thăm nhau, thăm những anh em đang vất vả kiếm sống hàng ngày, nuôi những đứa con tật nguyền vì di chứng chiến tranh.

Hòa bình hôm nay trên đất nước này phải trả bằng nhiều nỗi đau mất mát mà chẳng gì bù đắp được.

Có thể một bạn trẻ nào đó không biết tiếng đạn bom, có thể bạn không phải đứt bữa vì hết gạo, có thể bạn chẳng biết cầu Rạch Chiếc – cửa ngõ vào Sài Gòn năm 1975 phải hy sinh bao nhiêu người. Điều đó không sao nhưng bạn vô tâm với những người thân đã một thời máu lửa mà hy sinh, thương tật, coi cha mẹ nghèo nơi quê đầy khó khăn là nguyên nhân làm bạn chưa giàu, ham giàu sang mà quên quá khứ của dân tộc thì không thể được!

Chúng tôi, những cựu quan nhân, cựu chiến binh và thanh niên xung phong muốn nói với các bạn trẻ, chúng ta đã có, đang có rất nhiều thuận lợi 

Còn chúng tôi, vẫn là những người lính trên mặt trận mới, sống trong sạch, tuy có nghèo nhưng không hèn nhát, vẫn quý thương nhau bằng tình đồng đội giữa guồng quay của cơ chế thị trường.

PGS. Nguyễn Văn Nhã - Nguyên Trưởng ban Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội

Tin đọc nhiều

Ai không muốn sống văn minh? Ở nhiều nơi, để dân bầu cho bạn làm lãnh đạo, là bạn cam kết...
Giải tán Ban phụ huynh để công an, tổ dân phố giám sát trường học? Thật quá đáng khi cho rằng “BPH không làm được gì cho học...
Họ hứa gì trước anh linh Đại tướng Con cháu các tướng lĩnh thân cận với gia đình Đại tướng Võ...
Cha tôi, Lê Duẩn và kỷ niệm với Trung Quốc Nhân kỷ niệm 28 năm ngày mất cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, chúng...