Tháng 10, 2017
Thứ sáu
Thứ Ba, ngày 05/03/2013 08:51 AM (GMT+7)

Gặp nữ chuyên gia về máu đoạt giải Kovalepxcaica

Bà là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về HLA (kháng nguyên bạch cầu người), có hiệu quả ứng dụng trong công tác ghép tạng, và cũng là người đầu tiên ứng dụng và triển khai kỹ thuật bài bản để thực hiện sàng lọc các bệnh HIV, viêm gan B, C.

Bà chính là PGS – TS Bạch Khánh Hòa, người vừa nhận giải thưởng cao quý Kovalepxcaica do Ủy ban Giải thưởng Kovalepxcaica trao tặng năm 2012.

PGS.TS Bạch Khánh Hòa (sinh năm 1955), tốt nghiệp trường Đại học Y khoa năm 1973, sau đó được phân công về công tác tại khoa Huyết học và Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Bên cạnh nhiệm vụ được giao, bà còn âm thầm cùng đồng nghiệp tiến hành nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên sâu về Miễn dịch Huyết học với mong mỏi ngày càng có nhiều nghiên cứu được áp dụng vào thực tiễn.

Hiện tại ngoài việc nghiên cứu, bà còn tham gia đào tạo sinh viên, thạc sỹ, tiến sỹ tại trường Đại học Y Hà Nội và hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật mới cho các bác sỹ tại một số bệnh viện trong nước.

Gặp bà ngay sau buổi lễ vinh danh, tôi thật sự ấn tượng với vẻ đẹp và phong thái rất Hà Nội của bà. Càng khâm phục hơn khi cảm nhận được niềm đam mê cháy bỏng dành cho khoa học, cho nghề y của người phụ nữ này. “Được truyền lại những gì mình có cho sinh viên, cho thế hệ trẻ là niềm hạnh phúc mà tôi vô cùng trân trọng” - bà nói.

Gặp nữ chuyên gia về máu đoạt giải Kovalepxcaica - 1

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trao giải Kovalevskaia năm 2012 cho PGS.TS Bạch Khánh Hòa (giữa). Ảnh: Tiền Phong

Thưa bà, ngay tại lúc này đây, khi vừa vinh dự nhận giải thưởng cao quý nhất giành cho giới nữ Việt Nam làm khoa học, nếu có một lời nhắn gửi tâm huyết nhất đối với những học trò trẻ của mình, bà sẽ nói gì?

- Lời khuyên của tôi là : Hãy đam mê, can đảm và tận tâm!

Ai là người thầy đầu tiên của bà trên con đường nghiên cứu khoa học? Tại sao là phụ nữ chân yếu tay mềm mà bà lại chọn con đường nghiên cứu khoa học và chọn ngành huyết học, trong khi đa số phụ nữ chỉ nhìn thấy máu đã sợ?

Bố tôi là nhà khoa học, là người thầy đầu tiên dẫn dắt tôi. Ngay từ bé, ông đã luôn nói chuyện khoa học và luôn động viên tôi theo con đường này. Vì vậy, tôi đã dấn thân vào khoa học một cách tự nhiên mà không bao giơ nghĩ ngợi là việc mình đang làm có thích hợp với nữ giới hay không.

Bà có thể chia sẻ một kỷ niệm đáng nhớ liên quan tới những điều thú vị trong nghiên cứu khoa học mà những người ngoại đạo như chúng tôi khó hình dung?

Những kỷ niệm như vậy thì có nhiều. Nhưng có một câu chuyện buồn cười liên quan tới… con bò, con bê: Vào những năm 1980, khi chúng tôi nghiên cứu nhiễm sắc thể, hồi ấy việc nghiên cứu còn gặp rất nhiều khó khăn. Hồi đó việc mua sinh phẩm để làm nghiên cứu từ nước ngoài còn chưa thuận lợi như bây giờ. Hầu như chúng tôi phải tự chuẩn bị những sinh phẩm cho việc nghiên cứu.

Một lần, chúng tôi cần huyết thanh thai bê để nuôi cấy tế bào cho nghiên cứu nhiễm sắc thể, đó là nghiên cứu những tổn thương nhiễm sắc thể của bệnh nhân và những cựu chiến binh đi chiến trường B về và bị nhiễm chất độc màu da cam. Khi đó, chúng tôi phải đi về địa phương tìm mua con bò đang có chửa sắp đến tháng đẻ để mua, sau đó sẽ lấy con bê ngay khi mới sinh để tạo huyết thanh thai B.

Chúng tôi đã rất vất vả để đến từng làng xã mới tìm mua được con bò có chửa. Sau khi mua được, chúng tôi vui mừng chở bò về nhà. Nhưng do đường xa, lại thêm nhiều ổ gà nên khi về đến Hà nội thì khi mở ô tô để cho bò xuống thì bò đã đẻ ra bê rồi.

Chúng tôi nhìn nhau vừa buồn cười vừa tiếc vì như vậy không sử dụng được huyết thanh của con bê đó nữa. Huyết thanh chỉ sử dụng được khi nó vừa mới được ra ngoài mà chưa kêu “bebe”.

Và câu chuyện buồn nhất trong 30 năm làm công tác nghiên cứu khoa học?

Gần đây, một bệnh nhân nhi gặp một căn bệnh hiếm gặp, việc điều trị chỉ có phương pháp duy nhất đó là ghép tế bào gốc. Tuy nhiên cháu chỉ là con một, không có anh chị em ruột nên việc tìm người đủ điều kiện cho tế bào gốc rất khó khăn.

Sau một thời gian ngắn, bé phải từ biệt cõi trần.

Điều đó khiến tôi thấy rất day dứt, lúc nào cũng cảm thấy như mình còn mắc nợ nên tôi không cho phép mình mệt mỏi, gục ngã.

Đề tài khoa học tâm đắc nhất của bà - chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực huyết học?

Tâm đắc nhất có lẽ là đề tài “Nghiên cứu các biến đổi về di truyền, miễn dịch, sinh hóa, huyết học và tồn lưu dioxin trên các đối tượng bị phơi nhiễm có nguy cơ cao”. Đó là công trình nghiên cứu của chúng tôi về rối loạn di truyền tế bào ở cựu chiến binh chiến trường B và con cái họ, nghiên cứu về thai dị tật và những hậu quả do chiến tranh hóa học để lại sau chiến tranh chống Mỹ ở những cựu chiến binh có thời gian chiến đấu ở chiến trường B.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chính là bằng chứng khoa học để tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, góp phần buộc Mỹ phải có trách nhiệm đối với hậu quả chiến tranh tại Việt Nam.

Trong 30 năm qua, bà thấy đâu là thử thách mà nhà khoa học, nhất là nữ, cần phải nỗ lực để vượt qua?

Công việc nghiên cứu không phải khi nào cũng cho kết quả mà có những lúc là thất bại. Nhiều khi tôi cũng cảm thấy nản chí, nhưng tôi nghĩ đó chính là những thử thách mà mình phải vượt qua.

Những ngày đầu khi làm nghiên cứu trong điều kiện chung của đất nước còn rất nhiều khó khăn, điều kiện cho thực hiện nghiên cứu ở phòng thí nghiệm còn rất nhiều thiếu thốn, máy móc hóa chất không đủ, nhưng với hy vọng tìm được nguyên nhân dẫn đến suy tủy xương, chúng tôi phải kiên trì làm đi làm lại, thậm chí chỉ với một lần nuôi cấy như vậy phải lặp lại cả tháng trời.

Đây chính là những thử thách lớn cho những người làm nghiên cứu như chúng tôi.

Là một trong những người tham gia nghiên cứu kháng nguyên bạch cầu tại Việt Nam, cảm giác của bà thế nào khi góp công và chứng kiến ca ghép thận đầu tiên của ngành y Việt Nam thành công cách đây hơn chục năm?

Tôi và các đồng nghiệp đã tham gia nghiên cứu kỹ thuật nuôi cấy dòng tế bào, cấy hỗn hợp 2 dòng tế bào để xác định mức độ hòa hợp giữa người cho và người nhận trong ghép tủy, cấy tế bào, thu hoạch nhiễm sắc thể... Nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã thành công khi nghiên cứu nghiên cứu về HLA (kháng nguyên bạch cầu người), kết quả ứng dụng trong công tác ghép tạng và không thể thiếu trong hoạt động ghép tạng.

Năm 1990, sau khi bảo vệ xong luận án Phó tiến sỹ khoa học, tôi đã tham gia lựa chọn người cho và người nhận để tiến hành ca ghép thận đầu tiên tại Việt Nam.

Ca ghép thận này thành công càng khiến tôi thêm say nghề. Tôi thường xuyên tham gia hỗ trợ công tác ghép thận, gan, đặc biệt ghép tủy đồng loại.

Dự định sắp tới của bà?

Tôi sẽ tiếp tục cùng các đồng nghiệp của Bệnh viện Huyết học và Truyền máu tiếp tục nghiên cứu ứng dụng những kỹ thuật mới như ghép tế bào gốc, theo dõi mọc mảnh ghép và những kỹ thuật mới khác góp phần cho điều trị bệnh nhân ngày càng hiệu quả hơn và cùng đồng nghiệp đưa bệnh viện Huyết học và truyền máu ngang tầm khu vực và quốc tế.

Xin cảm ơn bà về những chia sẻ thú vị này!

TS Bạch Khánh Hòa đã tham gia chủ trì 4 đề tài cấp bộ, 7 đề tài cơ sở; tham gia nghiên cứu 2 đề tài cấp nhà nước, 1 đề tài cấp thành phố; công bố trên 66 bài báo về các công trình nghiên cứu khoa học đăng ở các tạp chí chuyên ngành quốc tế và trong nước.

Lý Ong

Tin đọc nhiều

Những biệt phủ và con đường "tính từng giờ máy xúc" “Chỉ có súc vật mới quay lưng lại nỗi thống khổ của đồng...
GS.Nguyễn Lân Dũng nói gì về cụ Văn Như Cương? Để tưởng nhớ về Nhà giáo Văn Như Cương, một người tâm huyết...
GS Nguyễn Văn Thuận: Có trung thực mới thành công trong khoa học Đang là giảng viên đại học Konkuk (Hàn Quốc), Chủ tịch Hiệp...
Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người Trong mỗi trái tim thi sĩ đều thường trực một tình yêu Tổ...