Tháng 09, 2019
Thứ hai
Thứ Bảy, ngày 23/05/2020 16:00 PM (GMT+7)

SARS, SARS-CoV-2 và hành động của các nhà khoa học Việt Nam

Bằng những bước đi nhanh chóng và quyết đoán, các nhà khoa học đã vào cuộc cùng Bộ Y tế và các bộ, ban ngành, chủ động khống chế được đại dịch Covid-19.

Từ dịch SARS đến đại dịch SARS-CoV-2, các nhà khoa học Việt Nam đã luôn nỗ lực và đạt được những thành tựu rất ấn tượng và đáng tự hào. Điều ấy minh chứng rằng khoa học Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong hoàn cảnh của một đất nước đang phát triển, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn.

Lịch sử khoa học Việt Nam kể từ sau 1945 ghi nhận Y học là một trong những lĩnh vực đạt được nhiều thành tựu lớn nhất, sớm tiệm cận với nền y học tiên tiến của thế giới và để lại những dấu ấn đặc biệt, như Phương pháp cắt gan khô, Nghiên cứu và chế tạo vaccine chống sốt rét, Thanh toán các loại dịch bệnh: sởi, dịch tả, đậu mùa, thương hàn… Trong công cuộc chống lại hai loại dịch bệnh nguy hiểm gần đây là SARS (2003) và SARS-CoV-2 (2020), các nhà khoa học Việt Nam cũng đã gây ngạc nhiên lớn đối với giới khoa học quốc tế.

Đánh bại SARS – Chiến công hiển hách

Ngày 28/4/2003, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thông báo Việt Nam là nước đầu tiên trên toàn cầu đã khống chế được dịch SARS. Các nhà khoa học Việt Nam đã góp sức không hề nhỏ đối với công cuộc chống dịch chung trên thế giới, làm rạng danh nền Y học nước nhà. Nhìn lại cuộc chiến chống SARS cách đây gần hai thập kỷ mới thấy các nhà khoa học Việt Nam đã rất sáng tạo, linh hoạt trong từng hoàn cảnh để cô lập, chống và diệt dịch.

Tiếp xúc với các nhân chứng, những người trực tiếp tham gia chống dịch SARS như GS.TSKH Lê Đăng Hà (nguyên Viện trưởng Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới), các bác sĩ Nguyễn Hồng Hà, Nguyễn Tường Vân, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Quốc Thái, Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Văn Phúc… (Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới), GS.TS Trần Quỵ (nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai) và nhiều người khác, chúng tôi mới biết được sự khó khăn, thiếu thốn của họ lúc đó như thế nào khi phải đối đầu với một loại dịch bệnh mới.

Họ thiếu từng chiếc găng tay, khẩu trang chuyên dụng và cả quần áo bảo hộ. Khắc phục những vấn đề đó, họ sử dụng đúp 2 chiếc khẩu trang, lồng 2 chiếc găng tay để đảm bảo an toàn khi tiếp xúc với người bệnh. Họ sử dụng từng chiếc quạt máy thông thường để làm thông thoáng không khí chống dịch… Những điều ấy đã từng diễn ra ở Việt Nam.

SARS, SARS-CoV-2 và hành động của các nhà khoa học Việt Nam - 1

GS.TSKH Lê Đăng Hà kiểm tra phim X-quang bệnh nhân năm 2003.

Ngày 26/2/2003, bệnh nhân đầu tiên - ông Johnie Chun Cheng nhập viện tại Bệnh viện Việt - Pháp với những triệu chứng sốt cao, ho khan và đau cơ. Đó là ngày bệnh SARS chính thức xâm nhập vào Việt Nam. Trước khi tới Hà Nội, doanh nhân này có tiếp xúc với bác sĩ Trung Quốc nhiễm SARS ở khách sạn Metropole, Hồng Kông. Hai ngày sau đó, bác sĩ Carlo Urbani, chuyên viên y tế của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam đến thăm khám cho Johnie C.C, đồng thời thông báo cho WHO về bệnh viêm phổi không điển hình nghi do virus lạ.

Bác sĩ Carlo Urbani sau đó bị lây nhiễm và tử vong ngày 12/3/. Cũng trong ngày đó, WHO cảnh báo cho toàn thế giới biết căn bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng (SARS) do virus lạ, có tốc độ lây lan rất mạnh và nhanh, tỉ lệ tử vong cao. Đến ngày 27/3 WHO chính thức thông báo tác nhân gây SARS là do virus corona mới, thuộc họ viridae corona nhưng đã biến đổi gen so với virus corona cổ điển hay gặp trước đây.

Tại Việt Nam, sau khi bệnh nhân Johnie vào điều trị tại Bệnh viện Việt-Pháp thì đến ngày 8/3 đã có 39 người bị viêm đường hô hấp cấp và 5 người tử vong. Ngày 9/3, Bệnh viện Việt-Pháp tạm thời không tiếp nhận bệnh nhân. Bệnh lây lan rất nhanh qua đường hô hấp, gây tâm lý hoang mang tột độ trong nhân dân. Trước tình hình đó, Bộ Y tế giao việc phòng và điều trị SARS cho Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới (trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai) do GS.TSKH Lê Đăng Hà làm Viện trưởng. Trong hoàn cảnh như vậy thật khó khăn với các y bác sĩ vì trên thế giới chưa từng có hiện tượng như vậy, cũng chưa nói về cách điều trị, phòng chống bằng cách nào?

Sau khi nghiên cứu, thảo luận, các nhà khoa học Việt Nam đặt ra quy trình đầu tiên là ngăn, khoanh vùng và cách ly những bệnh nhân nhiễm SARS ra khỏi cộng đồng. Ngay từ đầu, GS Lê Đăng Hà và lãnh đạo Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới đã đề ra một biện pháp khắc phục triệt để, cách ly nghiêm ngặt các bệnh nhân với ba khu riêng biệt: Khu bệnh nhân nặng, khu bệnh nhân nhẹ và khu buồng bệnh riêng biệt để tiếp nhận bệnh nhân mới vào khám và nhập viện. Toàn bộ khu vực điều trị bệnh nhân nhiễm SARS bị phong tỏa, những người nhiễm được điều trị trong điều kiện đặc biệt với những quy định nghiêm ngặt: người nhà không được phép tiếp xúc với bệnh nhân. Các y bác sĩ được phân chia làm việc 6 tiếng/một kíp trực. 

Cả Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới trong những ngày chống SARS như một “pháo đài” kín, chỉ những ai có phận sự và trách nhiệm mới được ra vào. Công tác bảo hộ cũng được quán triệt rất nghiêm ngặt, toàn bộ y bác sĩ đều phải mặc quần áo bảo hộ, đeo loại khẩu trang đặc biệt mới được tiếp xúc với người bệnh, ai không tuân theo quy định sẽ bị kỷ luật. Các bệnh nhân được phục vụ từ ăn, ở, vệ sinh,… một cách chu đáo nhất, rác thải từ các phòng có SARS phải được tiêu hủy theo một quy trình tiệt trùng rất cẩn thận. Nhân viên y tế sau kíp trực phải vệ sinh kỹ càng, cởi bỏ quần áo bảo hộ trước khi ra khỏi khu vực cách ly.

Về tốc độ nguy hiểm của dịch bệnh, các bác sĩ cho biết, các bệnh nhân khi chuyển đến Viện phải chụp ngay X-quang phổi. Lúc đầu, chưa thấy phổi bị tổn thương nhiều, nhưng ngày hôm sau phổi đã trắng xóa, bệnh nhân không thở được, nếu kéo dài tình trạng đó sẽ dẫn đến tử vong. Đồng thời với việc cho bệnh nhân thở máy, GS Lê Đăng Hà chỉ đạo sử dụng các loại thuốc kháng sinh tốt liều cao để tiêm cho các bệnh nhân nhiễm SARS, cùng với đó là truyền huyết thanh và các loại thuốc bổ để bệnh nhân hồi phục thể trạng.

Công tác diệt ổ dịch trong phòng điều trị SARS của Viện cũng “không giống ai”. Qua nghiên cứu của các bác sĩ, thì virus lạ gây SARS phát triển được trong điều kiện nhiệt độ thấp mà các phòng bệnh ở bệnh viện đều có sử dụng điều hòa, máy lạnh nên mặc dù đã vệ sinh, nhưng không thể tiêu diệt được hết nguồn bệnh còn khu trú trong điều hòa. Chính vì thế đối với các phòng bệnh ở Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới, GS Lê Đăng Hà không cho sử dụng điều hòa máy lạnh mà sử dụng quạt trong các phòng bệnh kết hợp với việc mở các cửa sổ, bởi trong điều kiện nhiệt độ cao ở nước ta, sử dụng quạt thì virus, vi khuẩn sẽ bị đẩy ra ngoài không khí, gặp nhiệt độ cao sẽ bị tiêu diệt. Đó cũng là biện pháp vệ sinh tẩy trùng ở các phòng bệnh của Viện.

Thời điểm này, có một loại máy sóng âm có thể đẩy các virus và làm sạch một căn phòng nhưng giá của nó thì không hề rẻ, vì vậy cách làm sáng tạo nhưng cũng rất hiệu quả đó của các bác sĩ Việt Nam đã được đồng nghiệp quốc tế hoan nghênh. Một kinh nghiệm mà GS Lê Đăng Hà và các cộng sự đúc rút được trong quá trình chống dịch SARS là khoanh vùng dịch triệt để, toàn bộ các bệnh nhân nhiễm SARS chỉ được đưa về một nơi để điều trị là Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới. Ông cho biết ở Trung Quốc, Đài Loan hay các nước khác không có cách làm như Việt Nam, họ tiến hành điều trị các bệnh nhân SARS tại cơ sở y tế gần nhất, vì vậy đã không ngăn chặn triệt để được sự lây lan của bệnh.

Với những nỗ lực không mệt mỏi, sau 2 tháng, Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới mà GS Lê Đăng Hà làm Viện trưởng đã hợp tác cùng các đồng nghiệp đã khống chế được dịch SARS ở Việt Nam. Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt đới đã gửi toàn bộ mẫu máu xét nghiệm của cán bộ y tế của Viện đến Tổ chức Y tế Thế giới để chứng minh nhân viên không ai bị nhiễm SARS. Việt Nam được công nhận là nước đầu tiên đã khống chế được dịch SARS.

Đẩy lùi SARS-CoV-2 – Tự hào Việt Nam

Từ cuối năm 2019 đến nay, thế giới chứng kiến sự bùng phát của đại dịch SARS-CoV-2. Tính đến nay đã có gần 5 triệu người nhiễm bệnh và trên 300.000 người tử vong vì đại dịch này. Nhân loại bước vào một giai đoạn khó khăn về mọi mặt và có thể nói là “kinh khủng” nhất trong hàng thế kỷ qua. Lệnh cách ly, phong tỏa được nhiều quốc gia ban hành để đối phó với đại dịch. Các nhà khoa học trên toàn thế giới mất ăn mất ngủ để tìm ra những phương cách phòng, chống, điều trị tốt nhất nhằm ngăn chặn và đẩy lui đại dịch.

Ở Việt Nam, Chính phủ đã xây dựng lộ trình từng bước để đối phó với diễn biến phức tạp của đại dịch. Chúng ta có quyền tự hào rằng cả nước đã đoàn kết, trên dưới một lòng, từ người dân đến chính quyền địa phương, các bộ ngành và Chính phủ đều chung tay chống dịch. Cuộc chiến chống đại dịch lần này khác hẳn với cuộc chiến chống SARS năm 2003 cả về quy mô, số lượng, tốc độ lây lan và mức độ nguy hiểm. Nếu năm 2003, chúng ta sớm khoanh vùng, khống chế được dịch thì năm 2020, dịch gần như lây lan nhanh chóng, ảnh hưởng đến cả nước, gây hoang mang lớn trong nhân dân và mức độ tổn hại kinh tế cũng không hề nhỏ.

Việt Nam đã kế thừa rất hiệu quả những kinh nghiệm từ cuộc chiến chống dịch SARS, như: khoanh vùng, cách ly và dập dịch. Trong cuộc chiến chống SARS-CoV-2, khẩu hiệu và cũng là nguyên tắc chính được đưa ra là: ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng, dập dịch. Tính cho đến nay, Việt Nam là đất nước hiếm hoi không có người tử vong do dịch bệnh này. Chúng ta đã kiểm soát tốt và làm chủ được tình hình, từng bước đẩy lui đại dịch nguy hiểm, trong đó phải kể đến lực lượng các nhà khoa học, những chiến sĩ áo trắng đã và đang ở tuyến đầu chống dịch.

Trước hết, Việt Nam là một trong những nước có phác đồ điều trị SARS-CoV-2 hoàn chỉnh đầu tiên trên thế giới. Không chỉ có vậy, phác đồ điều trị của Việt Nam chứng tỏ tính hiệu quả cao, nhờ tinh thần liên tục cập nhật, tiếp thu kinh nghiệm của thế giới, sáng tạo trong bối cảnh, tình hình cụ thể của đất nước và thể trạng của con người Việt Nam. Tính đến ngày 26/3, Bộ Y tế công bố hướng dẫn chẩn đoán và điều trị SARS-CoV-2 phiên bản thứ 3.

Trong phác đồ đó, nhiệm vụ trọng tâm chính là điều trị suy hô hấp, cập nhật những khuyến cáo mới nhất theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới về oxy liệu pháp, đích oxy máu. Các bác sĩ được yêu cầu theo dõi sát bệnh nhân, đặc biệt từ ngày thứ 7 đến thứ 10 của bệnh, theo dõi tiến triển hằng ngày X-quang phổi của bệnh nhân để phát hiện và xử trí kịp thời các biến chứng/tiến triển nặng của bệnh... Việc phân loại tình trạng bệnh nhân cũng được các nhà khoa học chú ý, nhằm có phác đồ điều trị, theo dõi riêng biệt.

Đồng thời với phát hiện, điều trị trực tiếp, Việt Nam đã triển khai việc nghiên cứu khoa học, một thành tựu nổi bật của các nhà khoa học Việt Nam là đã nuôi cấy thành công và phân lập virus SARS-CoV-2. Đi đầu và đạt thành tựu trong lĩnh vực này là các nhà khoa học nữ của phòng Thí nghiệm cúm (PTN), Khoa Virus, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương (VSDTTƯ). Công trình này đã đưa Việt Nam trở thành một trong 4 nước trên thế giới phân lập thành công chủng virus dịch bệnh Covid - 19. 

Nhà khoa học phụ trách của phòng thí nghiệm này là PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai, Phó Viện trưởng Viện VSDTTƯ, người cách đây 17 năm đã cùng đồng nghiệp “bắt” thành công virus SARS, virus cúm A/H5N1 và giờ đây là virus SARS-CoV-2. Với nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học, ứng dụng thành công vào thực tiễn, tập thể các nhà khoa học nữ của Phòng Thí nghiệm cúm đã vinh dự nhận Giải thưởng Kovalepskaia năm 2019.

SARS, SARS-CoV-2 và hành động của các nhà khoa học Việt Nam - 2

Các nữ cán bộ tại phòng thí nghiệm của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.

Đề cập về quá trình phân lập thành công virus SARS-CoV-2, PGS.TS Lê Thị Quỳnh Mai cho biết, thời điểm đó Việt Nam và thế giới đều chưa có mẫu chứng dương để đối chứng phục vụ xét nghiệm phát hiện ra virus mới này. Qua tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, nhóm được khuyến cáo có thể sử dụng virus SARS (2003) để phục vụ công tác nghiên cứu.

Chia sẻ về quá trình “bắt” virus SARS-Cov-2, PGS.TS Nguyễn Lê Khánh Hằng, Phó trưởng khoa Virus, thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết: “Việc phân lập đã được chúng tôi nghĩ đến ngay vì Viện đã từng phân lập được virus SARS-CoV năm 2003 và cúm gia cầm động lực cao H5N1 năm 2004. Đây là thành công rất quan trọng, khi phân lập được virus mới xác định nguồn gốc, giúp giải mã độc lực, cơ chế gây bệnh, khả năng xâm nhập, tính sinh miễn dịch…”. Đây cũng là dữ liệu tiên quyết để nghiên cứu các liệu pháp điều trị, phát triển các sinh phẩm chẩn đoán đặc hiệu và sản xuất vaccine trong tương lai.

Song song với việc nghiên cứu, nuôi cấy và phân lập thành công virus SARS-CoV-2, các nhà khoa học Việt Nam còn nghiên cứu và sản xuất thành công bộ kít xét nghiệm, được WHO chấp thuận. Bộ kít LightPower iVA SARS-CoV-2 1st RT-rPCR kít do Công ty Việt Á sản xuất theo Quy trình Danh sách sử dụng khẩn cấp (EUL) đã được WHO đánh giá cao và cấp mã số EUL 0524-210-00 (câu). Đây là sản phẩm được Bộ Khoa học và Công nghệ đặt hàng nghiên cứu và sản xuất, ra mắt ngày 5/3 và đã được sử dụng tại Việt Nam với hiệu quả phát hiện bệnh tốt.

Sản phẩm này cũng đã được xuất khẩu đi Phần Lan, Ukraine, Campuchia, Ba Lan... Theo thông báo của Cơ quan Quản lý thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe Vương quốc Anh, bộ kít xét nghiệm Covid-19 do Học viện Quân Y nghiên cứu, Công ty Việt Á của Việt Nam sản xuất đã được dán nhãn CE (tiêu chuẩn châu Âu) và CFS (giấy phép bán hàng tự do) tại EU và Vương quốc Anh.

Đề tài nghiên cứu 2 bộ KIT test SARS-CoV-2 là Real-time RT-PCR và RT-PCR do PGS.TS Hồ Anh Sơn (Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Y dược học Quân, Học viện Quân y là Chủ nhiệm cũng vừa được Bộ Y tế cấp phép tạm thời sử dụng trong 6 tháng. Việc chủ động được KIT chẩn đoán virus, sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều trong việc phòng chống dịch, như PGS.TS Hồ Anh Sơn cho biết: “Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam, Bộ Y tế cấp phép sản phẩm nghiên cứu trong thời gian siêu ngắn như vậy...”

Điểm khác biệt là bộ Kít xét nghiệm nhanh của Việt Nam sử dụng hệ thống máy xét nghiệm ELISA đã được trang bị từ tuyến y tế Trung ương đến tận tuyến huyện, để chẩn đoán người nhiễm HIV, sốt xuất huyết và một số bệnh miễn dịch khác. Do vậy nó có những ưu điểm vượt trội, phù hợp với tình hình và hoàn cảnh của nước ta như: dễ sử dụng cho tất cả các tuyến, kể từ tuyến huyện; độ an toàn cao vì xét nghiệm qua mẫu máu; độ nhạy, độ đặc hiệu của sinh phẩm đạt khoảng 95%, trong khi sản phẩm của nước ngoài chỉ đạt khoảng 70-75%. Việt Nam cũng là nước thứ 5 trên thế giới sản xuất thành công sinh phẩm xét nghiệm kháng thể. Đặc biệt, giá thành của sinh phẩm này rẻ hơn nhiều so với nhập ngoại (chỉ khoảng 5 USD/Kit xét nghiệm).

Một thành công lớn, gây cảm hứng mạnh mẽ trong cuộc chiến chống lại đại dịch SARS-CoV-2 là Việt Nam đã đạt được thành công bước đầu trong thử nghiệm vaccine. Sau 10 ngày được tiêm dự tuyển vaccine, đàn chuột thí nghiệm vẫn khỏe mạnh và đang được tiếp tục theo dõi các đáp ứng miễn dịch. Chủ tịch Công ty Vaccine và Sinh phẩm số 1 (VABIOTECH), Bộ Y tế, TS Đỗ Tuấn Đạt đánh giá: “Đây có thể nói là thành công bước đầu quá trình thử nghiệm vaccine Covid-19 của Việt Nam”. “Dự tuyển vaccine” là vaccine ban đầu dùng để thử khả năng sinh kháng thể trên chuột. Khi kết quả thử trên chuột cho thấy kháng thể tốt, nhà nghiên cứu sẽ phát triển thành vaccine hoàn chỉnh hơn để thử nghiệm trên người.

Theo TS Đỗ Tuấn Đạt, nguyên liệu để sản xuất vaccine là chủng mang vùng kháng nguyên (chất giúp cơ thể sản sinh kháng thể) đặc hiệu của nCoV, đã được thử nghiệm trên nhiều loài động vật và cho kết quả an toàn. Các nhà nghiên cứu tiếp tục phát triển vaccine hoàn chỉnh để đánh giá hiệu lực ngừa virus xâm nhập trên động vật và VABIOTECH đang nỗ lực rút ngắn thời gian nghiên cứu, sản xuất vaccine. Các phương án liên quan tới sản xuất kháng nguyên, vaccine ở quy mô lớn cũng được gấp rút nghiên cứu, xây dựng. Dự kiến, vaccine Covid-19 “made in Vietnam” đầu tiên sẽ hoàn thành sau từ 12 đến 18 tháng.

Như vậy, tính cho đến lúc này, Việt Nam là một trong những quốc gia thành công nhất trong việc chống lại đại dịch viêm đường hô hấp cấp SARS-Cov-2. Điều đó được thể hiện ở nhiều phương diện: số ca nhiễm thấp so với nhiều quốc gia, chưa có trường hợp nào tử vong. Ngoài ra, với sự nỗ lực, sáng tạo của các nhà khoa học Việt Nam, chúng ta đã đạt được những thành tựu lớn, trở thành nước tiên phong, đạt được những kết quả xuất sắc trong nghiên cứu phân lập virus, chế tạo bộ KIT xét nghiệm và bước đầu thử nghiệm thành công vaccine.

Những thành tựu trong công cuộc chống lại đại dịch nói chung cũng như thành công trong nghiên cứu khoa học nói riêng của Việt Nam được quốc tế đánh giá rất cao. Ðài Sputnik (Nga) ngày 23-4 dẫn nhận định của chuyên gia về Việt Nam học người Nga M.Xi-un-nê-béc nhấn mạnh, Việt Nam chống dịch hiệu quả nhờ ba yếu tố chính: Hành động nhanh chóng, kịp thời của chính quyền; thái độ có trách nhiệm của người dân; công khai, minh bạch thông tin.

Các chuyên gia Nga cho rằng sự tập trung sức mạnh từ chính quyền đến toàn xã hội có thể giúp Việt Nam trở thành một trong những nước ít bị ảnh hưởng bởi Covid-19 và vượt qua đại dịch mà hậu quả để lại ít nhất. Còn tờ Giải phóng (Pháp) đăng bài ngày 23-4-2020 viết về những “phép màu ở Việt Nam?”, phân tích nguyên nhân dẫn đến thành công của Việt Nam trong việc khống chế đại dịch SARS-CoV-2. Tác giả bài báo nhận định, đây là một kết quả cực kỳ ấn tượng trên thế giới, xuất phát từ phản ứng sớm và hành động rất linh hoạt nhưng quyết liệt của các cấp chính quyền từ trung ương tới địa phương.

Đại dịch SARS-Cov-2 trên thế giới vẫn đang diễn biến hết sức phức tạp, làm rung chuyển nền kinh tế - xã hội toàn cầu. Với những thành tựu đã đạt được, người Việt Nam chúng ta có quyền tự hào về đất nước mình, về nền khoa học nước nhà nói chung và y học nói riêng, trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, vì cộng đồng nhân loại.

Nguyễn Thanh Hóa (Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam)

Tin đọc nhiều

Lò đốt chất thải công nghiệp đầu tiên của Việt Nam Lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại đầu tiên ở Việt Nam do...
PGS.TS Hồ Thị Thanh Vân: Người nâng tầm cho pin nhiên liệu Với niềm đam mê năng lượng tái tạo, PGS.TS Hồ Thị Thanh Vân...
Pin chết, vứt ở đâu? Tháng trước, sau khi thay pin đồng hồ, tôi băn khoăn không...
Thế nào là báo lá cải? Chức năng cao nhất của báo chí dù "tà" hay "chính" vẫn là cung...