Tháng 09, 2019
Thứ hai
Thứ Bảy, ngày 21/12/2019 07:47 AM (GMT+7)

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1)

Có lẽ, sinh ra và lớn lên, chẳng ai muốn làm một vị tướng cả, vì nó khiến người ta liên tưởng đến chiến tranh, chia ly và mất mát. Thiếu tướng Phạm Như Vưu cũng vậy, ông chỉ muốn làm một người bình dị. Nhưng hoàn cảnh, đất nước cần ông và ông đã không phụ sự tin tưởng của Đảng, của Nhân dân. Gần 100 năm hiện hữu giữa cuộc đời đầy sóng gió, Thiếu tướng Phạm Như Vưu đã để lại tiếng thơm cho đời, làm rạng danh những người cùng thế hệ. Tạp chí Khám phá trân trọng gửi tới quý bạn đọc bài viết hai kỳ như một nén tâm hương gửi tới ông – Nhà khoa học, vị tướng của ngành Quân giới.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1) - 1

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1) - 2
Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1) - 3Thiếu tướng Phạm Như Vưu sinh năm 1921 trong gia đình một nhà giáo có truyền thống yêu nước tại làng Tống Khê, tổng Trực Nội, phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình (nay là xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình).

Lên 10 tuổi, bố mất, cuộc sống của gia đình hết sức khó khăn. Ông chỉ được theo học trường kỹ nghệ để sớm ra làm việc, kiếm tiền phụ giúp mẹ và gia đình.

Năm 1937, Phạm Như Vưu thi vào trường Kỹ nghệ Hải Phòng. Ở nơi đây, ông luôn là một người chăm chỉ, miệt mài với hi vọng học được những điều tốt nhất, sau này có thể hành nghề giúp ích cho đời. Học hết năm thứ hai thì Phạm Như Vưu được chuyển về học tại trường Kỹ nghệ Hà Nội.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1) - 4

Phạm Như Vưu (giữa) cùng các bạn học và cô giáo Nga tại Liên Xô.

Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, thực dân Pháp chủ trương tổ chức sản xuất một số vũ khí tại chỗ ở nước ta. Theo đó, nhà máy đạn con được xây dựng ở Phú Thọ; nhà máy Ca rông Hải Phòng được giao sản xuất vỏ đạn cối, bom; nhà máy Đình Ấm, Vĩnh Yên là cơ sở nhồi lắp. Cơ quan chỉ đạo sản xuất vũ khí là Service d’armement có trụ sở đặt tại Hà Nội. Phạm Như Vưu làm việc ở nhà máy Ca rông Hải Phòng, tại bộ phận máy tiện, gần phân xưởng rèn để chuyên tiện lỗ miệng bom.

Ông viết trong hồi kí: “Bây giờ suy nghĩ lại thấy đó không phải là nhà máy mà là nơi làm lao động khổ sai, với các điều kiện lao động tồi tệ nhất… Trong phân xưởng rèn thật là địa ngục các lò rèn lớn đặt gần nhau, lại rèn các bộ phận rất lớn nên nóng thật kinh khủng. Những người thợ ở đây trông cứ như ở mỏ than lên. Nhà máy còn có phân xưởng đúc gang và thép phân xưởng mộc làm mẫu đúc, phân xưởng gò hàn tán rất lớn, tất cả đều bẩn thỉu bệ rạc”.

Giống như nhiều thanh niên chưa được giác ngộ cách mạng lúc bấy giờ, Phạm Như Vưu chỉ biết làm việc để duy trì cuộc sống với mức thu nhập bèo bọt. Ông làm việc trong nhà máy 10 giờ một ngày, mỗi tháng lĩnh lương được 15-16 đồng Đông Dương mà ở trọ hết 10 đồng, ăn sáng 1 đồng, đời sống rất eo hẹp. Khi biết nhà máy Phú Thọ cần thợ tiện và trả lương cho thợ 1 đồng/ngày, ông gửi đơn lên và bắt đầu làm việc ở đây từ tháng 5-1941.

Chính những tháng ngày làm việc ở Phú Thọ, Phạm Như Vưu được tiếp xúc với tư tưởng mác xít và được giác ngộ cách mạng. Sau khi Nhật đảo chính Pháp (3-1945), ông tham gia Mặt trận Việt Minh, nhận in truyền đơn và hoạt động rất tích cực trong những phong trào đoàn thể khác.

Cách mạng tháng Tám thành công, ông được giao mở trạm tiếp đón cán bộ các nơi trong tỉnh về làm việc với tỉnh Phú Thọ. Ông tổ chức cửa hàng bán bánh kẹo lấy tên “Cộng đồng” và sống nhờ cửa hiệu đó. Ông còn được phân công về Hà Nội lấy báo Cứu quốc về bán. Tháng 3-1946, Phạm Như Vưu được cử đi học lớp tập huấn của Trung ương Đảng ở Vạn Phúc mà giảng viên là Nguyễn Khánh Toàn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh. Sau lớp học ngắn hạn đó, Phạm Như Vưu về Phú Thọ, được phân công phụ trách tuyên huấn, đi các huyện phổ biến nội dung Hiệp định sơ bộ. Sau đó ông phụ trách công tác tuyên huấn của hai huyện Tam Nông và Thanh Thủy trong nửa năm.

Tháng 12-1946, ông được Tỉnh ủy Phú Thọ cử ra lập xưởng sản xuất vũ khí cho dân quân tự vệ. Ông thu nhặt các máy, vật dụng còn lại của nhà máy đạn và thu nhận một số cán bộ kỹ thuật để lập một cơ sở sản xuất nhỏ. Hoạt động một thời gian thì có lệnh tản cư, ông đưa xưởng lên Hạ Hòa và xây dựng ở Ao Trâu, xã Y Sơn, huyện Hạ Hòa, đặt tên xưởng là Trại Kiến thiết.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1) - 5

Ông Phạm Như Vưu (phải) giới thiệu với đồng chí Lê Duẩn sản xuất súng cối 160mm tại nhà máy cơ khí chính xác V125, Đông Anh (Hà Nội), 1973.

Trại chỉ sản xuất lựu đạn, mìn và súng kíp. Có ba ban: Gia công cơ khí và sản xuất súng kíp; Đúc vỏ lựu đạn và mìn; Làm bộ lửa mìn và lựu đạn, nhồi thuốc vào tổng lắp. Ban cơ khí có ba máy tiện: một cái còn tốt lấy của nhà máy đạn, các máy còn lại của tư nhân góp vào làm vốn, rất cổ và xấu, ọc ạch. Ngoài ra có hai máy phát điện diesel lấy ở nhà máy nước và đồn điền cà phê, sau chuyển sang chạy khí than củi. Ban đúc có một quạt gió tự làm, có thêm hai lò rèn để rèn chi tiết súng kíp. Ban hóa chất chỉ có vài dụng cụ thô sơ.

Sau này, ông kể lại: “Cuộc sống thật chật vật và gian khổ nhưng hình như không ai kêu ca oán thán. Tất cả đều ăn tập thể, tiền do Ủy ban kháng chiến tỉnh phát cho để mua gạo và thức ăn. Đôi khi trại bán vũ khí cho các xã để có tiền tiếp tục sản xuất”. “Tập thể của nhà máy thật đoàn kết, thật mạnh làm việc hết sức, không quản hi sinh. Vì vậy được Liên khu 10 coi là xưởng mạnh nhất của Liên khu và cử ông và một số cán bộ lên lập Ban vũ khí dân quân Liên khu 10 trong phòng dân quân do đồng chí Nguyễn Đình Tỉnh phụ trách”.

Cuối năm 1949, Phạm Như Vưu được cử về Cục Quân giới, làm Trưởng phòng sản xuất vũ khí của Nha Giám đốc công binh xưởng. Nha này có nhiệm vụ tổ chức các xưởng quân giới và tổ chức sản xuất, chỉ đạo công nghệ, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý và nhân viên kỹ thuật. Phạm Như Vưu vừa làm Trưởng phòng sản xuất vũ khí, vừa tham gia Đảng ủy Cục quân giới, làm Bí thư chi bộ cơ quan, phụ trách tổ chức sinh hoạt đời sống tinh thần của cơ quan. Ông luôn đảm bảo tổ chức thông tin cho Cục Quân giới như Đài tiếng nói Việt Nam, có người viết, người đọc lên, có tổ ca hát, ngoài ra còn vận động viết báo tường.   

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1) - 6

Sau chiến thắng Biên giới (1950), Việt Nam mở rộng mối quan hệ với các nước trong phe xã hội và được các nước ủng hộ về mọi mặt cho cuộc kháng chiến, nhất là Trung Quốc và Liên Xô. Với tầm nhìn vượt thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã quyết định cử 21 cán bộ thuộc nhiều ngành khác nhau: nông nghiệp, y học, tài chính, vũ khí, khai thác mỏ… sang Liên Xô học tập. Mục đích là tăng cường bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho những cán bộ này để họ trở về và xây dựng đất nước sau ngày hòa bình được lập lại.

Phạm Như Vưu vinh dự là một trong số 21 người được chọn đi học ở Liên Xô năm 1951. Chuyến đi ấy là cả một câu chuyện dài, câu chuyện bí mật, mà bản thân những người ra đi cũng ý thức được tầm quan trọng của nó.

Trong những ngày đầu tháng 7-1951, đang trên đường đi công tác ở Liên khu I về thì Phạm Như Vưu nhận được tin phải đến ngay Tổng cục Cung cấp để đi học nước ngoài. Ông không kịp về cơ quan và không kịp báo cho gia đình mà phải đi ngay và gửi xe đạp ở cửa hiệu tạp hóa ngã ba phố Ngữ để đến Tổng cục Cung cấp. Tại đó, ông gặp ông Trần Đăng Ninh (Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp) và đã thấy các cán bộ quân sự khác ở đó. Lúc bấy giờ, ông Trần Đăng Ninh giao nhiệm vụ đi học ở Liên Xô cho các ông và giới thiệu đến trạm tiếp đón. Khi đi học, đoàn không có giấy giới thiệu của Đảng mà chỉ có thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Stalin viết bằng tiếng Pháp, nội dung là: “Được phép của đồng chí Stalin, chúng tôi gửi 21 đồng chí Việt Nam để đào tạo về chính trị và chuyên môn”. Kí tên là “Đin”. Đoàn gồm 21 cán bộ: 3 cử nhân, 2 bác sĩ, 1 dược sĩ, 2 kiến trúc sư, 2 tú tài và 9 người học kỹ nghệ.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1) - 7

Phạm Như Vưu chụp tại Bắc Kạn năm 1950.

Lúc đi Liên Xô, những cán bộ Việt Nam chưa xác định được học ngành gì, khi sang đó mới được nước bạn phân công. Ông Phạm Như Vưu cùng ông Hoàng Văn Lãn (lúc đó là Phó phòng sản xuất vũ khí) được cử học về bảo đảm kỹ thuật quân đội và sản xuất vũ khí bộ binh súng cối.

Bắt đầu năm học 1952-1953, Phạm Như Vưu và Hoàng Văn Lãn vào học trường Cao đẳng Quân khí Tula. Hai ông được hoạt động và học tập như sĩ quan Liên Xô. Hai người thành một lớp, học toàn bộ chương trình giống sinh viên Liên Xô. Chương trình học gồm các môn: toán cao cấp, vật lý cao cấp, Nga văn, vẽ kỹ thuật, binh khí kỹ thuật súng cối, các loại đạn dược và tổ chức kho tằng, bảo đảm kỹ thuật, thể dục quân sự, nghề nguội tiện rèn, khí tài quang học, khí tài phòng độc, lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô,… “Thật là một chương trình rộng lớn đầy đủ và toàn diện… Tôi và Hoàng Văn Lãn không chỉ tìm hiểu bài giảng mà còn tham khảo nhiều sách và chú ý thực tập thao tác tháo lắp, sửa chữa” (Hồi kí, tr.15).

Sau khi học xong lý thuyết, hai ông đến thực hành ở Nhà máy Đại tu Vũ khí và Khí tài Quang học mấy tháng tại thành phố Alatưa (thuộc Cộng hòa tự trị Tru-vat). Sau khi kết thúc thực tập ở đây, các ông vào thực tập tiếp ở Nhà máy Sản xuất Vũ khí Bộ binh gần trường (nhà máy này không cho người ngoại quốc đến).

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 1) - 8

Ông Phạm Như Vưu (đội mũ cối) giới thiệu với Tổng Bí thư Lê Duẩn việc sản xuất súng cối 160mm tại nhà máy cơ khí chính xác V125 (Đông Anh, Hà Nội), 1973.

Năm 1955, Phạm Như Vưu và bạn mình kết thúc khóa học tập ở Liên Xô. Ông viết một bản báo cáo tổng kết học tập gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô để báo cáo về quá trình học của mình. Bản “Báo cáo tổng kết học tập” cho thấy toàn bộ quá trình học tập chuyên môn và rèn luyện tư tưởng của ông ở Liên Xô. Trong đó, ông bày tỏ lòng biết ơn đến Đảng, nhà nước Liên Xô và ngôi trường mà ông học. Đồng thời ông cũng thể hiện quyết tâm: “Để đền đáp tất cả công ơn trời bể đó, tôi sẽ gắng sức đem hết các điều học hỏi được ra phục vụ Đảng và nhân dân, không lùi bước trước một cản trở nào”.

Đánh giá về kết quả học tập của Phạm Như Vưu, Bí thư Đảng Ủy nhà trường nhận xét: “Chắc là ở Việt Nam cấp trên đã chọn lọc rất kỹ nên mới có được các cán bộ sang học Liên Xô như các đồng chí, nếu tất cả cán bộ bên các đồng chí như vậy thì cách mạng Việt Nam sẽ thành công nhanh chóng”. Phạm Như Vưu viết trong hồi ký của mình lúc đó: “Chúng tôi không tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng chiến dịch mà chúng tôi chiến đấu suốt 5 năm không kém phần vất vả, hết sức học tập, cố gắng gìn vàng giữ ngọc, nhớ quê hương vợ con thấm thía, có tiền không dám ăn tiêu, giữ mối quan hệ quốc tế tốt đẹp”.

Khi về nước, cho mang nhiều tài liệu quân sự bí mật, gửi qua đường Tổng Tham mưu. Những tài liệu này đã trở thành tài liệu tham khảo quý giá, hỗ trợ cho ông rất nhiều trong công việc sau này.

(Mời quý độc giả đón đọc tiếp phần 2 trên Khampha.vn)

Bích Hạnh - Thanh Hóa (Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam)

Tin đọc nhiều

Món 100... và cái Tết thanh bình Cái nghị định 100 ấy, nó không chỉ hạn chế tai nạn giao...
Tết là điều tuyệt vời nhất con ơi! Con biết không? Tết giúp ta nhận ra những thứ mình đang có...
Áp lực điểm số Ngày đi học, kiến thức được tôi thu nạp cứ như một đứa trẻ...
Thế nào là báo lá cải? Chức năng cao nhất của báo chí dù "tà" hay "chính" vẫn là cung...