Tháng 09, 2019
Thứ hai
Chủ Nhật, ngày 22/12/2019 10:05 AM (GMT+7)

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 2)

Có lẽ, sinh ra và lớn lên, chẳng ai muốn làm một vị tướng cả, vì nó khiến người ta liên tưởng đến chiến tranh, chia ly và mất mát. Thiếu tướng Phạm Như Vưu cũng vậy, ông chỉ muốn làm một người bình dị. Nhưng hoàn cảnh, đất nước cần ông và ông đã không phụ sự tin tưởng của Đảng, của Nhân dân.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 2) - 1

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 2) - 2

Xem lại Phần 1.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 2) - 3

Trở về nước sau gần 5 năm miệt mài học tập ở Liên Xô, Phạm Như Vưu lại lao mình vào những nhiệm vụ mới. Dù ở cương vị nào, ông cũng luôn cố gắng hết mình, vì nhân dân phục vụ. Có khi ông chỉ là một cán bộ nhà máy, nhưng có khi lại giữ những chức vụ quan trọng. Ở đâu, ông cũng tỏa sáng theo cách riêng với cái tâm trong sáng, trách nhiệm lớn lao, như đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi đi học ở Liên Xô, đó là học để phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc.

Tháng 12-1955, Phạm Như Vưu và Hoàng Văn Lãn kết thúc khóa học, trở về nước và tiếp tục về công tác tại Cục Quân giới. Hoàng Văn Lãn được phân công tổ chức sửa chữa súng ở nhà máy Z63, còn Phạm Như Vưu viết các tài liệu để quản lý xí nghiệp, giảng bài, xuống nhà máy… Làm được gần 1 năm thì ông được phân công làm Chủ nhiệm môn Quân giới tại trường Sĩ quan Hậu cần. Tháng 5-1957, ông phụ trách cả lớp học quân giới ở trường 557 để đào tạo cán bộ cho miền Nam.

Nhận thấy những hạn chế của đội ngũ cán bộ nên khi về phụ trách bộ môn Quân giới, ông quyết tâm và tranh thủ cả ngày lẫn đêm để dịch cuốn sách: “Khoa học và kỹ thuật trong chiến tranh hiện đại” từ cuốn sách cùng tên của Liên Xô (mang về sau khi học ở Liên Xô) để nâng cao trình độ về khoa học kỹ thuật trong quân sự không chỉ cho lãnh đạo, giáo viên trong trường mà còn cho cán bộ quân đội.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 2) - 4

Phạm Như Vưu (giữa) cùng các bạn học và cô giáo Nga tại Liên Xô.

Sau khi dịch xong năm 1957, ông đưa bản thảo cho Nhà xuất bản Quân đội. Đến năm 1961, sách được xuất bản cùng với loạt sách: “Những vấn đề kinh tế trong chiến tranh hiện đại”, “Những vấn đề tài chính trong quân đội”… Các giáo viên trong trường đều mua để đọc và tham khảo.

Cùng với việc dịch sách, ông Phạm Như Vưu còn áp dụng các biện pháp bồi dưỡng trình độ giáo viên như: trước khi lên lớp chính thức, giáo viên phải đọc kỹ bài của mình, giảng thử cho tập thể nghe để bổ sung uốn nắn; trau dồi kiến thức khoa học kỹ thuật và học thao tác thành thạo trên vũ khí, khí tài để làm mẫu khi giảng dạy. Ông còn đảm nhiệm dạy các chuyên mục mới và khó với số giờ không kém giáo viên.

Thiếu tướng Phạm Như Vưu từng kể rằng, làm Chủ nhiệm môn Quân giới là thời gian tâm đắc nhất của ông. Cùng với việc dịch sách, ông còn làm được hai công việc quan trọng để xây dựng môn Quân giới. Thứ nhất, xin phép Bộ Quốc phòng thu hết những máy móc trong các xưởng quân giới trong kháng chiến chống Pháp và máy móc từ miền Nam tập kết ra Bắc, mang về nhà trường. Nhờ thế, ông xây dựng được xưởng có 15 máy tiện, phòng nguội có thể học 60 người một lúc, xưởng mộc, phòng hàn điện, hàn hơi, thợ tiện… Thứ hai, xin giấy giới thiệu đến các sư đoàn thu đủ kiểu vũ khí bộ binh thừa của Đức, Pháp, Ý, Nhật đem về trường để giúp học viên học các nguyên lý cấu tạo khác nhau của vũ khí.

Với hai biện pháp này, học viên vừa được học lý thuyết, vừa được thực hành ngay. Sau này, khi ông Phạm Như Vưu làm Cục trưởng Cục Quân giới, khi đến bất cứ đơn vị nào cả ở miền Bắc lẫn miền Nam, tới trạm sửa chữa vũ khí, vào kho đạn dược đều gặp các cán bộ phụ trách là học viên môn Quân giới trường Sĩ quan hậu cần.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 2) - 5

Kỷ vật khi tham gia chiến dịch Khe Sanh (1968) của Thiếu tướng Phạm Như Vưu.

Bên cạnh đó trong những năm 1960, ông còn góp phần đáng kể công sức vào việc xây dựng các nhà máy sản xuất trang thiết bị, vũ khí như: Z1, Z2, 6501, 6502, 6503, 6504, 6505, 6506, 6514…

Không chỉ làm nhiệm vụ giảng dạy, đào tạo, Phạm Như Vưu còn được giao cho những nhiệm vụ quan trọng về mặt ngoại giao. Đó là vào năm 1966, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ngày càng quyết liệt, nhu cầu về trang bị vũ khí ngày càng cao, Phạm Như Vưu (lúc bấy giờ là Phó Cục trưởng Cục Quân giới) được cử làm trưởng đoàn đi các nước Đông Âu để xin viện trợ quân sự. Chuyến đi đã đạt được kết quả như mong đợi khi cả Hungary, Tiệp Khắc, Ba Lan đều viện trợ cho Việt Nam những vũ khí, trang thiết bị cần thiết, phục vụ trực tiếp cho cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Năm 1968, ông làm Chủ nhiệm Quân giới chiến dịch Khe Sanh. Nhiệm vụ của ông là phụ trách cung cấp đạn cho mặt trận, sửa chữa vũ khí hư hỏng, thu dọn vũ khí của địch để sửa chữa và chuyển cho bộ đội. Trước khi đi, ông được phát một chiếc ba lô, 2 túi đựng thuốc, màn, võng và bình đựng nước. Cán bộ ở nhà máy Z1 (Yên Bái) - nơi Phạm Như Vưu từng chỉ đạo thiết kế và sản xuất vũ khí còn tặng ông một con dao găm, trên thân dao khắc chữ “Quân giới Việt Nam kính tặng”.

Sau mấy năm lăn lộn ở chiến trường, năm 1969, Phạm Như Vưu trở ra Bắc và làm Cục trưởng Cục quân giới. “Cũng từ đây, hoàn cảnh giúp tôi phát huy hết khả năng bảo đảm kỹ thuật quân khí và sản xuất vũ khí” – sau này ông bày tỏ.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 2) - 6

Phạm Như Vưu tại chiến dịch Khe Sanh, 1968.

Ngày 23-1-1973, hiệp định Paris được ký kết. Tranh thủ giữa lúc ngừng tiếng súng, đồng chí Đinh Đức Thiện (Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần) dẫn đầu đoàn cán bộ gồm các Cục trưởng trong Tổng cục Hậu cần (Quân giới, Quân khí, Quản lý xe, Xăng dầu, Vận tải, Vật tư, Quân y, Quân nhu…) vào chiến trường miền Nam để nắm tình hình và bàn định kế hoạch chuẩn bị hậu cần cho giải phóng miền Nam. Phạm Như Vưu khi đó là Cục trưởng Cục Quân giới và nằm trong thành phần đoàn. Cuối tháng 5-1973, đoàn trở ra Hà Nội, kết thúc hành trình hơn 6000km, trải qua các địa danh Thanh Hóa, Vinh, Quảng Bình, Quảng Trị, sang cả Lào và Campuchia, vào chiến trường B1, B2, B3. Chuyến đi rất nguy hiểm, gian khổ, vất vả nhưng rất thành công và hiệu quả của nó nằm trong chiến thắng của các chiến dịch tổng phản công giải phóng miền Nam.

Sau khi từ miền Nam trở về, Phạm Như Vưu cùng các đồng nghiệp bắt tay lập và thực hiện kế hoạch 75B. Nội dung kế hoạch gồm sản xuất súng cối 160 (100 khẩu), súng cối 120 (100 khẩu), đạn cối 160 (100 000 viên), đạn cối 120 (50 000 viên), súng đạn ĐKZ 82 (100 khẩu); sửa chữa phục hồi đạn pháo I30 và Đ74 (20 000 viên). Cục Quân giới quyết tâm đến cuối năm 1974 thiết kế, chế thử xong và tháng 6-1975 hoàn thành ½ kế hoạch, tháng 12-1975 trao cho quân đội đủ số kế hoạch. Riêng súng ĐKZ82 được lùi lại đến tháng 2-1975 mới hoàn thành chế thử.

Dưới sự chỉ đạo của ông, ngày 20-12-1974 khẩu súng cối đầu tiên được bắn kiểm nghiệm ở Trường bắn Quốc gia đạt mọi tiêu chuẩn. Sau đó, ngày 26-12-1974, các đồng chí Lê Duẩn (Tổng Bí thư Đảng), Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Đinh Đức Thiện… đến thăm nhà máy. Tuy nhiên, mới sản xuất được 3 khẩu súng thì miền Nam đã được giải phóng. Cuối năm đó, ông lại được phân công một nhiệm vụ mới, đó là làm Tham mưu trưởng Tổng cục Kỹ thuật, Từ 1979-1984, ông làm làm Phó tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu I. Tại đây, ông phụ trách một số kho tàng và xây dựng, nâng cấp một số trường đào tạo thợ sửa chữa. Ngoài ra, ông còn tổ chức để đảm bảo cuộc sống cho cán bộ của Quân khu I.

Vị tướng của ngành Quân giới (Phần 2) - 7

Tháng 10-1983, ông về làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, sau là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Năm 1990, ông nghỉ hưu khi đất nước đã yên tiếng súng. Ở tuổi thất thập cổ lai hi, nhưng vị tướng ấy vẫn không thôi ngừng nghỉ, bằng cách dịch sách, viết sách, xây dựng đời sống ở khu phố của mình. Người dân tổ dân phố 25, nơi ông sống đã quá quen thuộc với hình ảnh vị tướng già về hưu hàng ngày rảo bước trên con ngõ quen thuộc, và cởi mở, trò chuyện với hàng xóm, láng giềng. Với ông “Về hưu không phải để giết thời gian còn lại, cũng không để thời gian giết mình”.

68 năm kể từ buổi ra đi bí mật tháng 7-1951, cũng vào một ngày tháng 7 năm 2019, ông đã theo mây trắng về trời cùng những người đồng đội, đồng chí của mình. Nhưng với những người quen biết ông, vẻ mặt, ánh mắt nhân từ, tiếng cười trong sáng của ông vẫn luôn còn đâu đây. Ông sẽ còn được nhớ mãi với tư cách là một vị tướng, một nhà khoa học của ngành Quân giới.

Bích Hạnh - Thanh Hóa (Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam)

Tin đọc nhiều

Món 100... và cái Tết thanh bình Cái nghị định 100 ấy, nó không chỉ hạn chế tai nạn giao...
Tết là điều tuyệt vời nhất con ơi! Con biết không? Tết giúp ta nhận ra những thứ mình đang có...
Áp lực điểm số Ngày đi học, kiến thức được tôi thu nạp cứ như một đứa trẻ...
Ai đã khoác cái nhìn hằn học cho Tết? Từ đơn thuần hưởng thụ, bây giờ phải gánh những trọng trách...